Những nguồn chi viện lớn cho cách mạng Việt Nam [QĐND]
[url]http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/khoa-hoc-nghe-thuat-quan-su/nhung-nguon-chi-vien-lon-cho-cach-mang-viet-nam/30705.html[/url]
[COLOR="#000080"]QĐND[/COLOR] -[I] Thứ bảy, 03/05/2008 | 18:48 GMT+7[/I]
[QUOTE]Tài liệu trích từ đề tài nghiên cứu của các tác giả ở Viện lịch sử Quân sự sẽ tham luận tại Hội thảo khoa học "Đại thắng mùa xuân 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam", tổ chức tại TP Hồ Chí Minh ngày 14 và 15/4.
... Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là sự nghiệp chính nghĩa nên được các nước xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô và Trung Quốc, đồng tình ủng hộ.
Sự kiện đoàn đại biểu Chính phủ ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu thăm ba nước Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ trong vòng một tháng (22-6 đến 22-7-1955), đã mở đầu thời kỳ các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới ủng hộ và giúp đỡ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Đánh giá về ý nghĩa quan trọng của sự ủng hộ, giúp đỡ từ bên ngoài đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "10 năm trước đây (1945 - tác giả), chúng ta hầu như cô đơn, chỉ nhờ sức mạnh đoàn kết mà cách mạng thắng lợi. Ngày nay, nhân dân ta lại có đại gia đình gồm 900 triệu anh em từ Á sang Âu và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới ủng hộ. Cho nên cuộc đấu tranh chính trị để thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước tuy nhiều khó khăn, nhưng chúng ta nhất định sẽ thắng lợi".
Tuy nhiên, Người cũng đồng thời nêu rõ: "Phương châm của ta hiện nay là: tự lực cánh sinh là chính, việc các nước bạn giúp ta là phụ. Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta. Ta khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta. Song nhân dân và cán bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỷ lại".
Ngay sau chuyến thăm, theo thỏa thuận giữa Chính phủ ta với Chính phủ Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ, về kinh tế, trong hai năm Liên Xô giúp ta các thiết bị máy móc, kỹ thuật trị giá 306 ngàn triệu đồng (ngân hàng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) để khôi phục và phát triển 25 xí nghiệp; Trung Quốc giúp ta khôi phục hệ thống đường sắt, bến tàu, tu sửa cầu đường, xây dựng nhà máy dệt, nhà máy thuộc da, nhà máy giấy..., trị giá 1.224 ngàn triệu đồng trong 5 năm; Mông Cổ giúp ta 500 tấn thịt và một số bò và cừu để lập một nông trường chăn nuôi. Đến cuối năm 1962, Liên Xô đã giúp ta 1.400 triệu rúp, giúp xây dựng 34 nhà máy lớn, 19 nông trường và cải tạo 27 nông trường, một số trường đại học, một bệnh viện lớn...
... Khối lượng hàng quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa (bao gồm Tiếp Khắc, Ba Lan, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Ru-ma-ni, CHDC Đức, CHDCND Triều Tiên và Cu-ba) viện trợ từ năm 1955 đến 1975, qua từng giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1955-1960: tổng số 49.585 tấn, gồm: 4.105 tấn hàng hậu cần, 45.480 tấn vũ khí, trang bị-kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: viện trợ 29.996 tấn, Trung Quốc viện trợ 19.589 tấn.
- Giai đoạn 1961-1964: tổng số 70.295 tấn, gồm: 230 tấn hàng hậu cần, 70.065 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: 47.223 tấn: Trung Quốc 22.982 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác: 442 tấn.
- Giai đoạn 1965-1968: tổng số 517.393 tấn, gồm: 105.614 tấn hàng hậu cần, 411.779 tấn vũ khí, trang bị-kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: 226.969 tấn, Trung Quốc: 170.798 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 119.626 tấn.
- Giai đoạn 1969-1972: tổng số 1.000.796 tấn, gồm: 316.130 tấn hàng hậu cần, 684.666 tấn vũ khí, trang bị-kỹ thuật; trong đó, Liên Xô 143.793 tấn, Trung Quốc 761.001 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 96.002 tấn.
- Giai đoạn 1973-1975: Tổng số 724.512 tấn, gồm: 75.267 tấn hàng hậu cần, 49.246 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: 65.601 tấn, Trung Quốc: 620.354 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác: 38.557 tấn.
Như vậy, qua 20 năm, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã viện trợ cho Việt Nam tổng khối lượng hàng hóa là 2.362.581 tấn; khối lượng hàng hóa quân sự trên quy đổi thành tiền, tương đương 7 tỉ rúp.
... Đối với hàng hóa phục vụ quân sự, từ năm 1955 đến 1975, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa chi viện cho ta gồm nhiều chủng loại vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến đấu, cụ thể theo bảng số liệu sau:
[TABLE="width: 356"]
<tbody>[TR]
[TD][B]Phân loại[/B]
[/TD]
[TD][B]Đơn vị tính[/B]
[/TD]
[TD="colspan: 2"][B]Liên Xô[/B]
[/TD]
[TD][B]Trung Quốc[/B]
[/TD]
[TD="colspan: 2"][B]Các nước XHCN khác[/B]
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Súng bộ binh
[/TD]
[TD]khẩu
[/TD]
[TD="colspan: 2"]439.198
[/TD]
[TD]2.227.677
[/TD]
[TD="colspan: 2"]942.988
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Súng chống tăng
[/TD]
[TD]khẩu
[/TD]
[TD="colspan: 2"]5.630
[/TD]
[TD]43.584
[/TD]
[TD="colspan: 2"]16.412
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Súng cối các loại
[/TD]
[TD]khẩu
[/TD]
[TD="colspan: 2"]1.076
[/TD]
[TD]24.134
[/TD]
[TD="colspan: 2"]2.759
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Pháo hỏa tiễn
[/TD]
[TD]khẩu
[/TD]
[TD="colspan: 2"]1.877
[/TD]
[TD]290
[/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Pháo mặt đất
[/TD]
[TD]khẩu
[/TD]
[TD="colspan: 2"]789
[/TD]
[TD]1.376
[/TD]
[TD="colspan: 2"]263
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Pháo cao xạ
[/TD]
[TD]khẩu
[/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[TD]3.229
[/TD]
[TD="colspan: 2"]614
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Bộ điều khiển
[/TD]
[TD]bộ
[/TD]
[TD="colspan: 2"]647
[/TD]
[TD][/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Bệ phóng tên lửa
[/TD]
[TD]chiếc
[/TD]
[TD="colspan: 2"]1.357
[/TD]
[TD][/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Đạn tên lửa
[/TD]
[TD]quả
[/TD]
[TD="colspan: 2"]10.169
[/TD]
[TD][/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Tên lửa SA 75M
[/TD]
[TD]quả
[/TD]
[TD="colspan: 2"]23
[/TD]
[TD][/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Đạn tên lửa VT 50v
[/TD]
[TD]quả
[/TD]
[TD="colspan: 2"]8.686
[/TD]
[TD][/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Tên lửa Hồng Kỳ
[/TD]
[TD]e
[/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[TD="colspan: 3"]1 trung đoàn
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Tên lửa S125
[/TD]
[TD]e
[/TD]
[TD]2 trung đoàn
[/TD]
[TD="colspan: 3"][/TD]
[TD][/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Đạn tên lửa K681
[/TD]
[TD]quả
[/TD]
[TD="colspan: 2"]480
[/TD]
[TD]480
[/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Máy bay chiến đấu
[/TD]
[TD]chiếc
[/TD]
[TD="colspan: 2"]316
[/TD]
[TD]142
[/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Tàu chiến hải quân
[/TD]
[TD]chiếc
[/TD]
[TD="colspan: 2"]52
[/TD]
[TD]30
[/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Tàu vận tải hải quân
[/TD]
[TD]chiếc
[/TD]
[TD="colspan: 2"]21
[/TD]
[TD]127
[/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Xe tăng các loại
[/TD]
[TD]chiếc
[/TD]
[TD="colspan: 2"]687
[/TD]
[TD]552
[/TD]
[TD="colspan: 2"]10
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Xe vỏ thép
[/TD]
[TD]chiếc
[/TD]
[TD="colspan: 2"]601
[/TD]
[TD]360
[/TD]
[TD="colspan: 2"][/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Xe xích kéo pháo
[/TD]
[TD]chiếc
[/TD]
[TD="colspan: 2"]1.332
[/TD]
[TD]322
[/TD]
[TD="colspan: 2"]758
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Xe chuyên dùng
[/TD]
[TD]chiếc
[/TD]
[TD="colspan: 2"]498
[/TD]
[TD]6.524
[/TD]
[TD="colspan: 2"]2.502
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Phao cầu
[/TD]
[TD]bộ
[/TD]
[TD="colspan: 2"]12
[/TD]
[TD]15
[/TD]
[TD="colspan: 2"]13
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Xe máy công trình
[/TD]
[TD]chiếc
[/TD]
[TD="colspan: 2"]100
[/TD]
[TD]3.430
[/TD]
[TD="colspan: 2"]650
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Ống dẫn dầu
[/TD]
[TD]bộ
[/TD]
[TD="colspan: 2"]56
[/TD]
[TD]11
[/TD]
[TD="colspan: 2"]45
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD]Thiết bị toàn bộ
[/TD]
[TD]bộ
[/TD]
[TD="colspan: 2"]37
[/TD]
[TD]36
[/TD]
[TD="colspan: 2"]3
[/TD]
[/TR]
[TR]
[TD][/TD]
[TD][/TD]
[TD][/TD]
[TD][/TD]
[TD][/TD]
[TD][/TD]
[/TR]
</tbody>[/TABLE]
[/QUOTE]
Hãy Thử Làm Một Bài Tính...
+++ Đảng Cộng Sản Việt Nam Tham Gia/Joined/Kow Towed ==> Đảng CS Trung Quốc + Đảng CS Liên Xô ==>>> Đánh Mỹ ==>>> Đưa Thế Giới Đến Đại Đồng ==>>> Nhuộm Đỏ Thế Giới...
+++ Đảng CS Trung Quốc + Đảng CS Liên Xô BỎ RA 8 tỷ USD Quân Nhu & Quân Dụng; Đảng CS Việt Nam THÍ 2,000,000 BỘ ĐỘI[?] & 3,000,000 DÂN[?]
+++ Đảng CS Trung Quốc + Đảng CS Liên Xô "Cho"/Loaned Đảng CS Việt Nam [Mượn?] 7 Tỷ Rúp >>> 8 Tỷ USD[?]
+++ Đảng CS Việt Nam Cho Đảng CS Liên Xô Sử Dụng Cảng Cam Ranh 20 năm để "Trừ Nợ"[?]
+++ Đảng CS Việt Nam Cho Đảng CS Trung Quốc [Chiếm] Giữ [Giùm] Hoàng Sa 20 năm để "Trừ Nợ"[?]
+++ Đảng CS Việt Nam còn "Nợ" Đảng CS Liên Xô bao nhiêu nữa? Sẽ Trả Bao Lâu Nữa?
+++ Đảng CS Việt Nam còn "Nợ" Đảng CS Liên Xô bao nhiêu nữa? Sẽ Trả Bao Lâu Nữa?
+++ Liên Xô Dùng Bộ Đội Việt Nam... Đánh Thắng Mỹ [1975]... Tranh Ngôi Bá Chủ
+++ Trung Quốc Dùng Chiến Tranh VN để Mặc Cả, Bắt Tay với Mỹ... Trở Thành Ngôi Vị Á Quân Kinh Tế trên Thế Giới
+++ Con Ông Cháu Cha của Đảng CS VN, các Thành Viên BCT, Bí Thư Tỉnh Ủy, Huyện Ủy... nay đã thành Đại Gia, Tư Bản Đỏ...
+++ Hoàng Sa Mất... AI Chịu Trách Nhiệm?
+++ 2,000,000 Bộ Đội CS Bắc Việt + 1,000,000 Binh Sỹ VN Cộng Hòa + 5,000,000 Công Dân Việt Nam đã hi sinh, bỏ mạng trên đường di tản... vì Cuộc Chiến Tranh Ủy Nhiệm (Proxy war), do đảng CS Việt Nam cổ súy, để Phe Tư Bản vs Cộng Sản dùng Người Việt Nam... thử nghiệm vũ khí [Khả Năng Quân Sự Cao Thấp, tránh phải đối đầu trực diện...] thì biết tìm ai để đòi nợ?
Cuộc Chiến/Cờ (Vietnam War) vừa qua... ai Lời; ai Lỗ?
Đảng Cộng Sản Việt Nam cấu kết với Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Liên Xô... đòi đánh cho Mỹ Cút... sao nay lại mời Mỹ Về?
Đảng Cộng Sản Việt Nam có Công, hay có Tội?
Sao cứ Ăn Mày Dĩ Vãng, Tự Sướng "Quang Vinh Muôn Năm"... muốn thay nhau, Cha Truyền Con Nối... Cai Trị Việt Nam mãi?
Dân mình NGU hay HÈN, mà để cho Đảng Cộng Sản Việt Nam nhào ra Cướp Chính Quyền, tình nguyện làm Lính Đánh Thuê cho Cộng Sản Quốc Tế, mượn súng đạn của ngoại Bang để bắn giết Đồng Bào, hi sinh hơn 5,000,000 Con Dân Việt... để bây giờ bọn COCC lại Giành Công, nắm quyền cai trị Đất Nước, dâng Tài Nguyên Quốc Gia & Biển Đảo cho Đàn Anh Trung Cộng và Nga Sô để "Trả Nợ", Tẩu Tán Tài Sản đã vơ vét được từ Dân Đen qua Mỹ [dưới cái mác "Du Học"]... rồi lại quay ngược 180 độ lăm le cầu khẩn "Đế Quốc Mỹ"... "Bảo Hộ" Việt Nam.
Nếu Mỹ quay trở lại Việt Nam, thì 1975 so với 2015... suy ra... có khác gì? Ngoài khoảng thời gian 40 năm, 20 năm tang tóc, 5,000,000 oan hồn hi sinh vô ích... và việc Đảng Cộng Sản Việt Nam... Cướp Chính Quyền, biến Việt Nam trở thành một Xã Hội @#@# @#@# $#$# $#$#?
Sự thật về quan hệ việt nam & trung quốc trong 30 năm qua [nxbst]
[COLOR="#000080"]Nhà Xuất Bản Sự Thật[/COLOR]
[I]18 tháng 7, 2009[/I]
HẦN THỨ BA
[QUOTE] TRUNG QUỐC VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐỂ GIẢI PHÒNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ (1954-1975)
Bất chấp Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, nhằm tiêu diệt phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thôn tính miền Nam, chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam châu Á, đồng thời lấy miền Nam làm căn cứ để tiến công miền bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam châu Á, đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở khu vực này, hòng bao vây uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác. Thất bại trong việc dùng chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và tiến hành “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đã lao vào cuộc phiêu liêu quân sự chống nhân dân Việt Nam, tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Hưởng ứng lời kêu gọi bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên chống Mỹ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế tạo thành một sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng bọn xâm lược Mỹ. Trong chiến tranh, nhân dân Việt Nanm luôn luôn thực hành chiến lược tiến công, đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao, đồng thời biết kéo địch xuống thang, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Quá trình hơn 20 năm nhân dân Việt Nam chống chính sách can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ cũng là quá trình đấu tranh bền bỉ, hết sức phức tạp chống những âm mưu và hành động khi kín đáo, lúc trắng trợn của những người cầm quyền Trung Quốc thoả hiệp và câu kết với đế quốc Mỹ nhằm kiềm chế và làm suy yếu cách mạng Việt Nam, hòng khuất phục Việt Nam, từng bước bành trướng ở Đông Dương và Đông Nam Châu Á.
I- THỜI KỲ 1954-1964 - NHỮNG NGƯỜI CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC NGĂN CẢN NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐẤU TRANH ĐỂ THỰC HIỆN THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ.
Sau khi cùng với đế quốc thoả hiệp trong giải pháp Giơnevơ năm 1954, tạo được khu đệm an toàn ở phía nam, những người lãnh đạo Trung Quốc yên tâm thúc đẩy việc hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957), và từ năm 1958 đề ra kế hoạch “đại nhảy vọt” với tham vọng đuổi kịp và vượt một số cường quốc về kinh tế trong một thời gian ngắn và ra sức xây dựng lực lượng hạt nhân.
Về đối ngoại họ đi vào con đường hoà hoãn với đế quốc Mỹ, tiến hành những cuộc nói chuyện với Mỹ ở Giơnevơ từ tháng 8 năm 1955; đồng thời tìm cách mở rộng ảnh hưởng ở châu Á, nhất là ở Đông Nam châu Á và Nam Á.
Xuất phát từ đường lối đối nội, đối ngoại đó, những người cầm quyền Bắc Kinh đã hành động ngược lại lợi ích của nhân dân Việt Nam, phù hợp với lợi ích của đế quốc Mỹ ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung.
1- Gây sức ép để Việt Nam chấp nhận chủ trương “trường kỳ mai phục”
Đế quốc Mỹ và tay sai trắng trợn phá hoại việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam trong thời hạn hai năm như Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam đã quy định, đồng thời đàn áp cực kỳ tàn bạo phong trào yêu nước ở miền Nam Việt Nam.
Những người cầm quyền Bắc Kinh luôn luôn “thuyết phục” Việt Nam rằng công cuộc thống nhất là “một cuộc đấu tranh trường kỳ” và không thể thực hiện được bằng lực lượng vũ trang.
Tháng 11 năm 1956, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với những người lãnh đạo Việt Nam:
“Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ… nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm”
Diễn biến thực tế của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã chứng tỏ cuộc kháng chiến đó có lâu dài, nhưng không phải lâu dài vô hạn độ như chủ tịch Mao Trạch Đông nói.
Tháng 7 năm 1955, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình doạ:
“Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền bắc”.
Tháng 7 năm 1957, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói:
“Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17…Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt.”
Đó là một điều trái hẳn với Hiệp nghị Giơnevơ, vì theo Hiệp nghị này, vĩ tuyến 17 không phải là biên giới giữa hai quốc gia mà chỉ là giưói tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền Việt Nam. Những người lãnh đạo Bắc Kinh nhiều lần nhấn mạnh rằng ở miền Nam Việt Nam “chỉ có thể dùng phương châm thích hợp là trường kỳ mai phục, tích trữ lực lượng, liên hệ quần chúng, chờ đợi thời cơ”. Thực chất phương châm đó là gì?
Trong một cuộc trao đổi ý kiến với những người lãnh đạo Việt Nam, uỷ viên trung ương của Đảng cộng sản Trung Quốc, thứ trưởng Bộ ngoại giao Trương Văn Thiên cho rằng ở miền Nam Việt Nam có thể tiến hành đánh du kích. Nhưng sau đó, đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, theo chỉ thị của Bắc Kinh, đã thông báo với phía Việt Nam rằng đó không phải là ý kiến của Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc mà chỉ là ý kiến cá nhân.
Như vậy, “trường kỳ mai phục” có nghĩa là nhân dân Việt Nam thủ tiêu đấu tranh cách mạng, để mặc cho Mỹ Diệm thả sức đàn áp nhân dân Việt Nam.
“Giữ vĩ tuyến 17”, “trường kỳ mai phục”, “tích trữ lực lượng”, “chờ đợi thời cơ”… đó chẳng qua là luận điệu quanh co nhằm che dấu ý đồ của Bắc Kinh muốn duy trì nguyên trạng chính trị ở Việt Nam, công nhận Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và nguỵ quyền Sài Gòn song song tồn tại. Ngày 22 tháng 7 năm 1954, khi ăn cơm với Ngô Đình Luyện, em ruột của Ngô Đình Diệm tại Giơnevơ, thủ tướng Chu Ân Lai đã gợi ý đặt một công sứ quán của Sài Gòn tại Bắc Kinh. Dù Ngô Đình Diệm đã bác bỏ gợi ý đó, nhưng đây là một bằng chứng rõ ràng là chỉ 24 giờ sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, những người lãnh đạo Bắc Kinh đã lộ rõ ý họ muốn chia cắt lâu dài nước Việt Nam.
Trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1959, với chính sách đàn áp phát xít, Mỹ Diệm đã giết hại hàng vạn người Việt Nam yêu nước, lùa hàng vạn nhân dân vào các trại tập trung trá hình, gây cho nhân dân Việt Nam những tổn thất to lớn so với bất kỳ thời gian nào khác trong cuộc chiến tranh cứu nước của mình. Nếu cứ để chúng tiếp tục giết hại những người Việt Nam yêu nước thì làm sao “tích trữ” được lực lượng, còn nhân dân đâu để : ” liên hệ quần chúng” và chờ đợi đến thời cơ nào? Theo cái đà đó thì nước Việt Nam sẽ mất độc lập và vĩnh viễn bị chia cắt.
Vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng miền Nam là tiếp tục đấu tranh chính trị hay kết hợp cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang?
Nhân dân Việt Nam kiên quyết đi theo đường lối độc lập, tự chủ của mình. Cuối năm 1959 đầu năm 1960, nhân dân trong những vùng rộng lớn thuộc đồng bằng Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ đã nhất tề “đồng khởi” kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, làm rung chuyển tận gốc chế độ tay sai Ngô Đình Diệm.
2- Ngăn cản nhân dân Việt Nam đẩy mạnh đấu tranh vũ trang ở miền Nam.
Các cuộc đồng khởi, thực chất là những cuộc khởi nghĩa thừng phần đã nhanh chóng phát triển thành một cuộc chiến tranh cách mạng, vừa đấu tranh quân sự vừa đấu tranh chính trị chống lại “ chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Nhưng những người cầm quyền Trung Quốc đã không đồng tình với chủ trương đó của Việt Nam.
Tháng 5 năm 1960, hội đàm với phía Việt Nam, họ nói về miền Nam Việt Nam như sau:
“ Không nên nói đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự là chính…Đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự không phải là cướp chính quyền ngay, mà cuộc đấu tranh vẫn là trường kỳ. ..Dù Diệm có đổ cũng không thể thống nhất ngay được, vì đế quốc mỹ không chịu để như vậy đâu…
Miền bắc có thể ủng hộ về chính trị cho miền Nam, giúp miền Nam đề ra các chính sách nhưng chủ yếu là bồi dưỡng tinh thần tự lực cánh sinh cho anh em miền Nam…Khi ăn chắc, miền bắc có thể giúp quân sự cho miền Nam, nghĩa là khi hoàn toàn chắc chắn không xảy ra chuyện gì, có thể cung cấp một số vũ trang mà không cho ai biết. Nhưng nói chung là không giúp.”
Như vậy, khi không cản được nhân dân miền Nam Việt Nam “đồng khởi” thì họ cho rằng hình thức chiến đấu ở miền Nam là đánh du kích, đánh nhỏ từng đơn vị trung đội, đại đội.
Làm chủ vận mệnh của mình, nhân dân Việt Nam đã đưa cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam tiến lên vững mạnh. Cuối năm 1963, chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm sụp đổ, “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ phá sản hoàn toàn.
3- Lôi kéo Việt Nam chống Liên Xô
Đầu những năm 1960, trong khi ngăn cản nhân dân Việt Nam đẩy mạnh chiến đấu chống Mỹ, những người lãnh đạo Bắc Kinh giơ cao cùng một lúc hai chiêu bài chống đế quốc Mỹ và chống Liên Xô, nhưng trên thực tế họ tiếp tục hoà hoãn với đế quốc Mỹ ở châu Á, đánh lạc hướng cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân thế giới để thực hiện mưu đồ chống Liên Xô, xoá bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa, nắm quyền “lãnh đạo cách mạng thế giới”, chuẩn bị tích cực cho việc hoà hoãn và câu kết với đế quốc Mỹ.
Trong những cuộc hội đàm với phía Việt Nam năm 1963, họ tìm cách thuyết phục Việt Nam chấp nhận quan điểm của họ là phủ nhận hệ thống xã hội chủ nghĩa và mở cho họ “một con đường” xuống Đông Nam châu Á. Cũng trong năm 1963, những người lãnh đạo Trung Quốc đưa ra cái gọi là Cương lĩnh 25 điểm về đường lối chung của phong trào cộng sản quốc tế và đề nghị triệu tập cái gọi là hội nghị 11 đảng cộng sản, thực tế là để nắm vai trò “lãnh đạo cách mạng thế giới” và lập một “Quốc tế cộng sản” mới do Bắc Kinh khống chế. Họ thiết tha yêu cầu Việt Nam đồng tình là cốt lợi dụng uy tín và vai trò của Việt Nam trong phong trào cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Nhằm mục đích này, họ còn hứa hẹn viện trợ ồ ạt để lôi kéo Việt Nam. Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình thông báo với lãnh đạo Viẹt Nam ý kiến của lãnh đạo Trung Quốc sẽ viên trợ 1 ti nhân dân tệ nếu Việt Nam khước từ mọi viện trợ của Liên Xô.
Phía Việt Nam đã khẳng định thái độ kiên quyết bảo vệ hệ thống xã hội chủ nghĩa, không tán thành việc họp hội nghị 11 đảng và không để những người lãnh đạo Bắc Kinh dùng đất nước Việt Nam làm bàn đạp cho mưu đồ bành trướng của họ. Do tahí độ kiên quyết của phía Việt Nam, Cương lĩnh 25 điểm không gây được tiếng vang, âm mưu lập “Quốc tế cộng sản” mới cũng không thành.
◎◎◎
Trong thời kỳ này, đối với cách mạng Lào, những người cầm quyền Trung Quốc cũng thi hành một chính sách giống như đối với Việt Nam. Họ cũng gây sức ép để lực lượng cách mạng Lào “ trường kỳ mai phục”. Khi Mỹ và tay sai lật đổ Chính phủ Lào liên hiệp, tiến hành “chiến tranh đặc biệt”, họ ngăn cản cách mạng Lào đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và mưu toan ép Đảng Nhân dân cách mạng Lào “sớm lập lại Chính phủ liên hiệp”, sợ rằng đốm lửa Sầm Nưa, Phongsalỳ có thể lan ra cả Việt Nam và miền Nam Trung Quốc.
Trong một cuộc hội đàm với phía Việt Nam tháng 8 năm 1961, khi đề cập đến vấn đề Lào, phía Trung Quốc nói:
“Cần hết sức tránh việc trực tiếp tham gia chiến tranh. Nếu Mỹ trực tiếp vào Lào thì miền bắc Việt Nam, Vân Nam, Quảng Tây sẽ xảy ra vấn đề gì? Cần tính đến việc phiêu ău của Mỹ”.
Đối với việc giải quyết vấn đề Lào tại Giơnevơ năm 1961-1962, họ còn chủ trương chia nước Lào theo chiều ngang thành hai vùng: vùng giải phóng ở phía bắc, vùng do nguỵ quyền Viêng Chăn kiểm soát ở phía nam. Đó là một âm mưu thâm độc nhằm buộc lực lượng cách mạng Lào phải lệ thuộc vào Trung Quốc và cô lập cách mạng miền Nam Việt Nam.
Nhưng những nhà lãnh đạo cách mạng Lào kiên quyết giữ vững đường lối riêng của mình, lực lượng kháng chiến Lào ngày càng giành nhiều thắng lợi buộc đế quốc Mỹ và tay sai phải ký Hiệp nghị Giơnevơ năm 1962 công nhận nền trung lập của Lào và nhận có đại biểu của Mặt trận Lào yêu nước trong Chính phủ liên hiệp thứ hai ở Lào.
II -THỜI KỲ 1965-1969: LÀM YẾU VÀ KÉO DÀI CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM
Trong thời kỳ này ở Trung Quốc diễn ra cái gọi là cuộc “đại cách mạng văn hoá ”, thực chất là một cuộc đấu tranh nội bộ điên cuồng và đẫm máu làm đảo lộn toàn bộ xã hội Trung Quốc, nhằm xoá bỏ chủ nghĩa Mác Lênin, phá vỡ Đảng cộng sản Trung Quốc và cơ cấu nhà nước, khôi phục vị trí độc quyền lãnh đạo của chủ tịch Mao Trạch Đông và đường lối Mao Trạch Đông ở trong nước, chống Liên Xô, phá hoại cách mạng thế giới, câu kết với đế quốc Mỹ ở ngoài nước, đẩy mạnh việc thực hiện chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn.
Những người lãnh đạo Trung Quốc, vì lợi ích chiến lược của họ trong thời kỳ này, đã dấn sâu vào con đường phản bội nhân dân Việt Nam .
1- Bật đèn xanh cho Mỹ trực tiếp xâm lược Việt Nam
Sau cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã rút ra bài học là không nên tiến hành một cuộc chiến tranh trên lục địa châu Á, nhất là ở những nước láng giềng của Trung Quốc để tránh đụng độ quân sự trực tiếp với Trung Quốc. Nhưng hơn 10 năm sau, đế quốc Mỹ lại liều lĩnh tiến hành một cuộc phiêu kưu quân sự ở Việt Nam sau khi gây ra cái gọi là “ sự kiện vịnh Bắc Bộ” tháng 8 năm 1964. Một trong những nguyên nhân chính là đế quốc Mỹ đã được yên tâm về phía những người cầm quyền Trung Quốc.
Tháng 1 năm 1965, qua nhà báo Mỹ Étga Xnâu , chủ tịch Mao Trạch Đông nhắn Oasinhtơn:
“Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt biên giới của mình để đánh nhau. Đó là điều hoàn toàn rõ ràng. Chỉ khi nào Mỹ tấn công, người Trung Quốc mới chiến đấu. Phải chăng như vậy là không rõ ràng? Người Trung Quốc rất bận về công việc nội bộ của mình. Đánh nhau ngoài biên giới nước mình là phạm tội ác. Tại sao người Trung Quốc phải làm như vậy? Người Nam Việt Nam có thể đương đầu với tình hình.” (Ét-ga Xnâu: Cuộc cách mạng lâu dài, Nhà xuất bản Hớt xin xơn, Lân đơn, 1973, tr. 216)
Sau đó bằng nhiều cách, kể cả bằng cách trực tiếp nói trong cuộc đàm phán Trung Mỹ cấp đại sứ tại Vacsava, phía Trung Quốc làm cho Mỹ hiểu rõ câu nói của chủ tịch Mao Trạch Đông và yên tâm rằng: “người không đụng đến ta thì ta không đụng đến người”.
Do đó từ tháng 2 năm 1965 chính quyền Giônxơn đã sử dụng bộ máy chiến tranh khổng lồ của Mỹ vào chiến trường Việt Nam, đưa quân Mỹ vào miền Nam tiến hành chiến tranh cục bộ, đồng thời làm chiến tranh phá hoại bằng không quân chống nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, gây nên biết bao tang tóc và tàn phá đối với nhân dân cả nước Việt Nam.
Như vậy, những người cầm quyền Trung Quốc đã bộc lộ những tính toán lắt léo, những ý đồ thâm độc của họ. Họ đẩy Mỹ sa lầy trong chiến tranh xâm lược Việt Nam để họ yên tâm làm cuộc “cách mạng văn hoá”. Khi Mỹ lao vào cuộc phiêu lưu quân sự ở Việt Nam, họ muốn làm yếu cả Mỹ lẫn Việt Nam.
Câu nói của thủ tướng Chu Ân Lai với tổng thống Ai Cập A. Nátxe ngày 23 tháng 6 năm 1965, do ông Môhamét Hátxenen Hâycan, người bạn thân thiết và cố vấn riêng của tổng thống A. Nátxe kể lại là một bằng chứng hùng hồn:
“Mỹ càng đưa nhiều quân vào Việt Nam thì chúng tôi càng vui lòng vì chúng tôi biết rằng chúng tôi nắm chúng trong tay, chúng tôi có thể lấy máu chúng. Nếu Ngài muốn giúp đỡ người Việt Nam thì cần khuyến khích Mỹ ném càng nhiều lính Mỹ vào Việt Nam càng tốt” (Mô-ha-mét Hát-xe-nen Hây-can: "Những tài liệu từ Cai-rô" Nhà xuất bản Phia-ma-ri-ông, Paris, 1972, tr. 238)
Đối với nhân dân Việt Nam, những người cầm quyền Trung Quốc chỉ một mực nhấn mạnh là phải đánh lâu dài, đánh du kích, không đánh lớn. Họ giúp nhân dân Việt Nam chủ yếu là gúp vũ khí nhẹ, đạn dược, trang bị hậu cần. Họ không muốn cuộc chiến tranh Việt Nam sớm kết thúc vì không những họ muốn lực lượng cách mạng Việt Nam suy yếu mà còn muốn lợi dụng càng lâu càng tốt cái tiếng “viện trợ Việt Nam” để giương cao ngọn cờ “cách mạng trệt để”, tập họp lực lượng ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh, đẩy mạnh chiến dịch chống Liên Xô.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi họ khước từ thi hành một hiệp định quân sự bí mật giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo hiệp định này, về nguyên tắc, đến tháng 6 năm 1965 phía Trung Quốc phải gửi phi công sang giúp Việt Nam. Nhưng ngày 16 tháng 7 năm 1965 Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng Trung Quốc đã báo cho Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam là phía Trung Quốc không thể gửi phi công sang Việt Nam được vì “thời cơ chưa thích hợp” và “làm như vậy không ngăn cản được địch đẩy mạnh oanh tạc “. Trong một cuộc hội đàm với phía Việt Nam tháng 8 năm 1966 họ cũng nói: “ Trung Quốc không đủ khả năng về không quân giúp bảo vệ Hà Nội”.
2 -Phá hoại mọi hành động thống nhất ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược.
Để Việt Nam buộc phải lệ thuộc vào Trung Quốc, những người cầm quyền Bắc Kinh ra sức ngăn cản mọi hành động thống nhất của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ.
Ngày 28 tháng 2 năm 1965, họ bác bỏ dự thảo do phía Việt Nam đề nghị ngày 22 tháng 5 năm 1965 là các nước xã hội chủ nghĩa ra tuyên bố chung lên án Mỹ tăng cường chiến tranh xâm lược chống nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Tháng 3 năm 1965, họ lại hai lần bác bỏ đề nghị của Liên Xô về vấn đề thống nhất hành động để bảo đảm an ninh của Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chính vì thế họ đã bác bỏ đề nghị của Liên Xô lập cầu hàng không qua Trung Quốc, lập các sân bay trên đất Trung Quốc để bảo vệ Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Tháng 2 năm 1966, chủ tịch Mao Trạch Đông bác bỏ việc thành lập Mặt trận quốc tế ủng hộ Việt Nam đã được nêu trong cuộc hội đàm cấp cao Việt Trung.
Tháng 3 năm 1966, cũng chủ tịch Mao Trạch Đông bác bỏ việc thành lập Mặt trận quốc tế thống nhất ủng hộ Việt Nam do Đảng cộng sản Nhật Bản nêu trong cuộc hội đàm cấp cao với Đảng cộng sản Trung Quốc. Sau đó bọn tay sai của Bắc Kinh đã trắng trợn hành hung đại diện Đảng cộng sản Nhật Bản tại Trung Quốc.
Nhưng những người cầm quyền Trung Quốc lại muốn thành lập một cái gọi là Mặt trận nhân dân thế giới do họ khống chế:
“Cần phải thành lập Mặt trận thống nhất thế giới rộng rãi nhất chống đế quốc Mỹ và tay sai…Tất nhiên Mặt trận đó không thể bao gồm họ (Liên Xô) được…” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 khóa 8 Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tháng 8 năm 1956).
Đi đôi với việc phá hoại mọi hành động thống nhất ủng hộ Việt Nam, họ gây khó khăn rất lớn cho việc vận chuyển hàng viện trợ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác quá cảnh đất Trung Quốc và tìm cách điều chỉnh sự viện trợ đó để hạn chế khả năng đánh lớn của nhân dân Việt Nam, đặc biệt trong các mùa khô.
Trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc, nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia đã đoàn kết chặt chẽ với nhau và đó là truyền thống, là một nhân tố thắng lợi của nhân dân ba nước. Sau khi Mỹ tăng cường chiến tranh chống nhân dân Việt Nam và uy hiếp độc lập, hoà bình và trung lập của Lào và Campuchia, tháng 3 năm 1965 Hội nghị nhân dân các nước Đông Dương đã họp ở Phnôm Pênh, Mặt trận đoàn kết chống Mỹ của nhân dân các nước Đông Dương được hình thành. Những người cầm quyền Trung Quốc bên ngoài buộc phải hoan nghên kết quả của hội nghị, nhưng bên trong mưu tính phá hoại Mặt trận đoàn kết nhân dân ba nước Đông Dương. Theo chính sách cổ truyền “chia để trị” của tất cả bọn đế quốc và phản động, họ chia rẽ ba nước Đông Dương, làm suy yếu và cô lập Việt Nam hòng đánh tỉa từng nước.
Năm 1966 ở Lào, trong các vùng giải phóng do Mặt trận Lào yêu nước quản lý, theo kế hoạch của Bắc Kinh, người Hoa tìm cách chia rẽ người Lào với người Việt Nam, tuyên truyền xuyên tạc và xúi giục một số phần tử chống lại Đảng nhân dân cách mạng Lào. Mặt khác, Bắc Kinh tranh thủ chính quyền Vương quốc Lào, đẩy mạnh việc giúp Lào làm hệ thống đường ở 5 tỉnh Bắc Lào nối liền với cao nguyên Vân Nam của Trung Quốc và có những nhánh đi về hướng Việt Nam, Thái Lan nhằm tạo điều kiện can thiệp vào công việc nội bộ của Lào và chuẩn bị cho những kế hoạch bành trướng sau này.
Ở Campuchia, từ trước năm 1965, những người cầm quyền Trung Quốc đã trắng trợn vu cáo Việt Nam hy sinh lợi ích của cách mạng Campuchia tại Hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông Dương, mặc dù sự thật rõ ràng là chính họ đã bán rẻ những lợi ích đó. Từ năm 1965, họ nắm Pôn Pốt, thúc đẩy y cùng đồng bọn tiến hành đấu tranh vũ trang chống chính quyền Xihanúc đang liên minh với các lực lượng kháng chiến Việt Nam và Lào. Nửa cuối năm 1969, sau khi Lon Non lên làm thủ tướng, những người cầm quyền Trung Quốc ủng hộ quan điểm của Lon Non là Quân giải phóng miền Nam Việt Nam phải rút khỏi các căn cứ ở Campuchia và không được dùng cảng Xihanucvin vào việc vận chuyển hậu cần. Chính trong thời gian này, bè lũ Pôn Pốt Iêngxary cũng đòi Quân giải phóng miền Nam Việt Nam rút khỏi các căn cứ ở Campuchia.
Trái với sự mong ước của Bắc Kinh, Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam vẫn hình thành, trên thực tế, tình đoàn kết giữa nhân dân các nước Đông Dương ngày càng củng cố và nhân dân Việt Nam càng đánh càng mạnh, càng giành thêm nhiều thắng lợi.
3 -Ngăn cản cuộc thương lượng của Việt Nam với Mỹ để kéo Mỹ xuống thang.
Ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, chủ trương của Việt Nam là tiến hành đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao.
Đầu năm 1968, khi cuộc chiến tranh của Mỹ đến đỉnh cao nhất, nhân dân Việt Nam đã tiến hành thắng lợi cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, giáng cho địch một đòn quyết liệt, làm đảo lộn thế chiến lược của chúng, buộc chính quyền Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào đàm phán với Việt Nam dân chủ cộng hoà tại Pari.
Trong cuộc đàm phán với phía Việt Nam tháng 4 năm 1968, phía Trung Quốc thừ nhận rằng Tuyên bố ngày 28 tháng 1 năm 1967 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về việc đàm phán với Mỹ đã gây ảnh hưởng tốt: “Ngay đồng minh của Mỹ, cả Đờ Gôn cũng đòi chấm dứt ném bom không điều kiện”. Nhưng họ vẫn cho rằng:
“Lúc này Việt Nam chấp nhận đàm phán chưa phải là thời cơ và trên tư thế cao, ta đã nhân nhượng một cách vội vã”.
Từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, ngày khai mạc Hội nghị Pari đến trung tuần tháng 10 năm 1968, bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh không đưa một tin nào về cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ, nhưng lại nhấn mạnh rằng nhân dân Việt Nam cần giải quyết số phận cuộc đấu tranh của mình “không phải trên bàn hội nghị mà trên chiến trường”, thậm chí còn đe doạ rằng: “nếu miền Nam Việt Nam không được bảo đảm thì cuối cùng sẽ đưa đến chỗ mất toàn bộ Việt Nam”.
Xu hướng Mỹ buộc phải chấm dứt ném bom miền bắc Việt Nam càng lộ rõ thì phản ứng của Bắc Kinh càng mạnh.
Ngày 9 tháng 10 năm 1968, một nhà lãnh đạo Trung Quốc đã gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam tại Bắc Kinh và yêu cầu báo cáo với lãnh đạo Việt Nam rằng họ coi việc Mỹ chấm dứt ném bom miền bắc Việt Nam là “sự thoả hiệp của Việt Nam và Mỹ”, “là một thất bại lớn, tổn thất lớn đối với nhân dân Việt Nam giống như cuộc đàm phán ký Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954 là một sai lầm”; họ đề nghị phía Việt Nam “nên để cho Mỹ bắn phá trở lại khắp miền bắc, làm như vậy là để Mỹ phân tán mục tiêu oanh tạc, đồng thời cũng chia sẻ bớt khó khăn cho miền Nam”.
Ngăn cản nhân dân Việt Nam thương lượng với Mỹ, khuyến khích Mỹ tăng cường ném bom miền bắc Việt Nam, đây chính là cái mà tướng Mỹ M. Taylơ gọi là quyết tâm của những người lãnh đạo Trung Quốc “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”, nhằm làm suy yếu Việt Nam, có lợi cho chính sách bành trướng của họ.
Trong cuộc gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam nói trên, phía Trung Quốc còn trắng trợn vu khống Việt Nam đàm phán với Mỹ là do “nghe lời của Liên Xô” và yêu cầu phía Việt Nam lựa chọn:
“Hoặc là muốn đánh thắng Mỹ thì phải cắt quan hệ với Liên Xô, hoặc là muốn thoả hiệp với Mỹ, dùng viện trợ của Trung Quốc đánh Mỹ để đạt mong muốn đàm phán với Mỹ thì sự viện trợ của Trung Quốc sẽ mất hết ý nghĩa của nó”.
Ngày 17 tháng 10 năm 1968, bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Nghị gặp đại diện Việt Nam thông báo tuyên bố của những người lãnh đạo Trung Quốc về cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ:
“Lần này nếu các đồng chí chấp nhận bốn bên đàm phán tức là giúp cho Giônxơn và Hămphơrây đoạt được thắng lợi trong bầu cử, để cho nhân dân miền Nam Việt Nam vẫn ở dưới sự đô hộ của đế quốc Mỹ và bù nhìn, không được giải phóng, làm cho nhân dân miền Nam Việt Nam còn có khả năng bị tổn thất lớn hơn…Như vậy giữa hai Đảng và hai nước chúng ta còn cần nói chuyện gì nữa?”.
Đe doạ cắt quan hệ giữa hai Đảng là một thủ đoạn trắng trợn, một sức ép lớn nhất của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam.
Đi đôi với việc đe doạ bằng lời lẽ thô bạo là việc đe doạ bằng hành động thực sự. Năm 1968, khi bàn vấn đề viện trợ cho Việt Nam trong năm 1969, những người cầm quyền Bắc Kinh đã giảm kim ngạch viện trợ hơn 20% so với kim ngạch viện trợ năm 1968. Hơn thế nữa, tháng 8 năm 1969 họ trắng trợn nói:
“Thế Việt Nam đánh hay hoà để Trung Quốc tính việc viện trợ?”
Thực tế họ đã giảm kim ngạch viện trợ năm 1970 hơn 50% so với năm 1968.
Sự thật là không phải đến năm 1968 những người lãnh đạo Bắc Kinh mới dùng vấn đề viện trợ để ép Việt Nam. Tháng 4 năm 1966, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói với một nhà lãnh đạo Việt Nam rằng năm 1964 “đồng chí Mao Trạch Đông có phê bình chúng tôi là quá nhiệt tâm đối với vấn đề Việt Nam. Bây giờ chúng tôi mới thấy rõ đồng chí Mao nhìn xa”.
Phía Việt Nam đã trả lời:
“Sự nhiệt tình của một nước xã hội chủ nghĩa đói với một nước xã hội chủ nghĩa khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2 hay 3 triệu người…Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản”
Để tăng sức ép đối với Việt Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc còn chỉ thị cho sứ quán của họ ở Hà Nội xúi giục, tổ chức người Hoa ở Việt Nam gây rối, chống lại Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Cùng với hàng vạn người thuộc “bộ đội hậu cần” Trung Quốc sang làm đường giúp Việt Nam ở những tỉnh phía bắc từ năm 1965 đến 1968, bọn phản động người Hoa tuyên truyền cho “tư tưởng Mao Trạch Đông” và “cách mạng văn hoá”, xuyên tạc đường lối của Việt Nam, tổ chức các màng lưới gián điệp. Những người cầm quyền Bắc Kinh còn cho những người gọi là “tị nạn cách mạng văn hoá” thâm nhập các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam để làm tình báo và tổ chức các “đội quân ngầm” (Trong cuộc hội đàm cấp cao Việt - Trung tháng 9 năm 1970, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã thừa nhận trách nhiệm của Trung Quốc đối với các hoạt động không hữu nghị đó. Tháng 11 năm 1977. Chủ tịch Hoa Quốc Phong lại một lần nữa, thừa nhận như thế.)
Nhưng nhân dân Việt Nam quyết tâm giữ vững đường lối độc lập tự chủ không gì lay chuyển được của mình. Tất cả những thủ đoạn thô bạo gây sức ép, tất cả những thủ đoạn chính trị của Bắc Kinh đều đã thất bại: Mỹ đã buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền bắc Việt Nam từ đầu tháng 11 năm 1968 và ngồi vào cuộc Hội nghị bốn bên ở Pari có Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tham gia từ đầu năm 1969.
III -THỜI KỲ 1969-1973 : ĐÀM PHÁN VỚI MỸ TRÊN LƯNG NHÂN DÂN VIỆT NAM
Năm 1969, cuộc “đại cách mạng văn hoá” ở Trung Quốc về cơ bản hoàn thành. Những người cầm quyền Bắc Kinh bên trong thì ra sức củng cố quyền lãnh đạo của chủ tịch Mao Trạch Đông, ổn định tình hình, đẩy mạnh sản xuất, bên ngoài thì thi hành mọi biện pháp để đẩy nhanh quá trình nhích lại gần đế quốc Mỹ nhằm ngoi lên địa vị một cường quốc lớn, bình thường hoá quan hệ Trung Mỹ và giải quyết vấn đề Đài Loan. Họ mưu toan dùng con bài Việt Nam để đạt mục tiêu đối ngoại đó.
Năm 1969 là năm đầu của Níchxơn vào Nhà Trắng. Ông ta đưa ra cái gọi là “học thuyết Nichxơn” nhằm cứu vãn và khôi phục địa vị của đế quốc Mỹ trên thế giới đã bị suy yếu nghiêm trọng do hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá” chiến tranh nhằm rút được quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà vẫn giữ được chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu.
Thời kỳ 1969-1973 là thời kỳ nhân dân Việt Nam đẩy mạnh tiến công trên chiến trường cũng như tại Hội nghị bốn bên ở Pari, ngày càng giành thêm nhiều thắng lợi. Đây cũng là thời kỳ Bắc Kinh và Oasinhtơn tăng cường tiếp xúc, bắt tay công khai với nhau, bàn bạc không những các vấn đề tay đôi mà cả các vấn đề thuộc về chủ quyền của nhân dân Việt Nam và của nhân dân các nước ở Đông Dương.
1- Công khai phản bội nhân dân Việt Nam
Từ tháng 11 năm 1968, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ra tuyên bố tỏ ý muốn nối lại các cuộc đàm phán Trung Mỹ ở Vácsava và cùng với Mỹ ký một thoả thuận cùng tồn tại hoà bình. Tiếp đó phía Trung Quốc đã tích cực đáp ứng những tín hiệu của phía Mỹ. Sau khi lên làm tổng thống, Níchxơn báo cho phía Trung Quốc là các cuộc thảo luận giữa Mỹ và Trung Quốc có thể tiến hành ở Trung Quốc. Phía Trung Quốc đã trả lời là “ bản thân Níchxơn có thể đến Bắc Kinh hoặc cử một phái viên đến để thảo luận về vấn đề Đài Loan” (Ét-ga Xnâu: Cuộc cách mạng lâu dài, Nhà xuất bản Hớt xin xơn, Lân đơn, 1973, tr. 11)
Tháng 6 năm 1970, Trung Quốc và Mỹ thoả thuận là đại sứ Trung Quốc Hoàng Chấn và Kitxinhgiơ sẽ tiến hành những cuộc đàm phán bí mật mỗi lần Kítxinhgiơ đến Pari đàm phán với phía Việt Nam” (V.A. Ôan-tơ: Những chuyến công du thầm lặng. Nhà xuất bản Đáp-bơn-đê, Niu Oóc, 1978, tr. 530-531)
Ngày 10 tháng 12 năm 1970, qua người bạn thân tín Étga Xnâu, chủ tịch Mao Trạch Đông đưa ra lời mời Tổng thống Níchxơn sang thăm Trung Quốc. :
“Ông ta chắc chắn sẽ được hoan nghênh vì hiện nay những vấn đề giữa Trung Quốc và Mỹ phải được giải quyết với Níchxơn” (Ét-ga Xnâu: Cuộc cách mạng lâu dài, Nhà xuất bản Hớt xin xơn, Lân đơn, 1973, tr. 172)
Đây là bước ngoặt của Bắc Kinh có ý nghĩa quyết định trong quan hệ Trung Mỹ, đồng thời là bước ngoặt công khai phản bội cách mạng Việt Nam và cách mạng Đông Dương, phản bội cách mạng thế giới. Bắc Kinh tăng cường các cuộc tiếp xúc công khai với Mỹ:
Tháng 3 năm 1971, Trung Quốc mời một đoàn bóng bàn Mỹ sang thăm Trung Quốc, mở đầu cái mà dư luận thế giới gọi là “ngoại giao bóng bàn”.
Tháng 7 năm 1971 và tháng 10 năm 1971 Kitxinhgiơ, đặc phái viên của Níchxơn sang Bắc Kinh.
Tháng 2 năm 1972, Níchxơn sang thăm Trung Quốc.
Thông báo cho phía Việt Nam biết cuộc đi thăm Bắc Kinh lần thứ nhất của Kítxinhgiơ, ngày 13 tháng 7 năm 1971 Đoàn đại biểu cấp cao Trung Quốc đã nói:
“Vấn đề Đông Dương là quan trọng nhất trong cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi và Kítxinhgiơ. Kítxinhgiơ nói rằng Mỹ gắn việc giải quyết vấn đề Đông Dương với việc giải quyết vấn đề Đài Loan. Mỹ nói có rút được quân Mỹ ở Đông Dương thì mới rút quân Mỹ ở Đài Loan. Đối với Trung Quốc, vấn đề rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam là vấn đề số 1. Còn vấn đề Trung Quốc vào Liên hợp quốc là vấn đề số 2”
Khi Níchxơn kết thúc cuộc đi thăm Trung Quốc, hai bên đã ký Thông cáo Thượng Hải ghi nhận kết quả hội đàm giữa hai bên, trong đó có một đoạn như sau:
“Mỹ khẳng định mục tiêu cuối cùng là rút hết các lực lượng và cơ sở quân sự ra khỏi Đài Loan. Trong khi chờ đợi, tuỳ theo tình hình căng thẳng trong khu vực này giảm đi, Mỹ sẽ dần dần giảm lực lượng và cơ sở quân sự của Mỹ ở Đài Loan”
Đầu tháng 3 năm 1972, khi thông báo cho phía Việt Nam về cuộc hội đàm vơi Níchxơn, đại diện những người lãnh đạo Trung Quốc đã giải thích về đoạn thông cáo trên như sau:
“Muốn bình thường hoá quan hệ Trung Mỹ, muốn làm dịu tình hình ở Viễn Đông thì trước hết phải giải quyết vấn đề Việt Nam và Đông Dương. Chúng tôi không đòi giải quyết vấn đề Đài Loan trước. Vấn đề Đài Loan là bước sau”
Thâm tâm của Bắc Kinh là lợi dụng vấn đề Việt Nam để giải quyết trước vấn đề Đài Loan. Nhưng Việt Nam kiên quyết giữ vững đường lối độc lập tự chủ của mình. Do đó những người lãnh đạo Trung Quốc và Tổng thống Nichxơn mới thoả thuận: “Trong khi chờ đợi, tuỳ theo tình hình căng thẳng trong khu vực này giảm đi…”
Điều đó có nghĩa là nếu Bắc Kinh muốn thúc đẩy việc rút lực lượng và các cơ sở quân sự của Mỹ ra khỏi Đài Loan thì họ cần ép Hà Nội đi vào một giải pháp thoả hiệp với Mỹ.
Phía Trung Quốc dùng “củ cà rốt” viện trợ: nếu năm 1968 vì phản đối Việt Nam đàm phán với Mỹ họ đã giảm kim ngạch viện trợ cho Việt Nam thì năm 1971 và năm 1972, để lôi kéo Việt Nam đi vào chiều hướng của Bắc Kinh thoả hiệp với Mỹ, họ đã dành cho Việt Nam viện trợ cao nhất của họ so với những năm trước đó. Đây cũng là thủ đoạn nhằm che đậy sự phản bội của họ nhằm xoa dịu sự công phẩn của nhân dân Việt Nam.
Đi đôi với tăng thêm viện trợ là sự thúc ép liên tục để Việt Nam chấp nhận giải pháp của Mỹ. Ngày 18 tháng 7 năm 1971, phía Trung Quốc thông báo cho phía Việt Nam phương án bốn điểm của Mỹ: rút quân và thả tù binh Mỹ trong 12 tháng kể từ ngày 1 tháng 8 năm 1971, ngừng bắn toàn Đông Dương và giải pháp theo kiểu Giơnevơ năm 1954. Về rút quân, “vì thể diện” Mỹ muốn để lại một số cố vấn kỹ thuật; về chính trị “Mỹ không muốn bỏ Nguyễn Văn Thiệu cũng như không muốn bỏ Xirích Matắc”
Trong cuộc hội đàm với phía Việt Nam tháng 11 năm 1971 họ nói:
“Việt Nam nên tranh thủ thời cơ giải quyết trước vấn đề rút quân Mỹ và quan tâm giải quyết vấn đề tù binh Mỹ, việc đánh đổ nguỵ quyền Sài Gòn là lâu dài”
Cũng trong dịp này, sau khi nhắc lại ý của phía Mỹ là “Mỹ có nhiều bạn cũ, Mỹ phải giữ” chủ tiach Mao Trạch Đông nói:
“Vấn đề Đài Loan là vấn đề trường kỳ. Có lẽ mấy năm không giải quyết xong. Nếu xét nhanh hay chậm thì tôi thiên về chậm hơn. Hiện nay Tưởng có 65 vạn quân, ở giữa lại có eo biển. Chúng tôi không sang được, nó vẫn cứ đóng ở đó, chổi không đến nơi thì bụi không đi”
Sau khi Níchxơn kết thúc chuyến đi thăm Trung Quốc, Kítxinhgiơ nói với các nhà báo ngày 1 tháng 3 năm 1972 rằng từ nay Níchxơn và bản thân y “chỉ còn việc nhìn về Mátxcơva và nghiền nát Việt Nam” (Me-vin và Béc -na Can-bê: Kít-xinh-giơ. Nhà xuất bản Lít-tơn Brao, Tô-rông-tô, 1974, tr.283)
Từ tháng 4 năm 1972, Mỹ ném bom lại và thả mìn phong toả các cảng miền bắc Việt Nam và đánh phá ác liệt miền Nam Việt Nam nhằm đối phó với cuộc tiến công chiến lược mùa xuân năm 1972 của nhân dân Việt Nam, cứu vãn sự sụp đổ của chế độ Nguyễn Văn Thiệu.
Bước phiêu lưu quân sự này chính là hậu quả rõ ràng của sự đồng loã giữa những người cầm quyền Trung Quốc và Níchxơn.
Việc Hiệp định Pari không được ký tắt vào cuối tháng 10 năm 1972, ai cũng rõ đó là do sự lật lọng của Níchxơn- Kítxinhgiơ. Nhưng những người cầm quyền Trung Quốc lại đứng trên quan điểm của Mỹ để gây sức ép với Việt Nam. Ngày 1 tháng 11 năm 1972, họ yêu cầu Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam dân chủ cộng hoà báo cáo với lãnh đạo Việt Nam: Việt Nam nên nhân nhượng về hai vấn đề rút quân miền bắc và miền bắc Việt Nam không nhận viện trợ quân sự để có thể ký kết được hiệp định.
Và ngày 5 tháng 12 năm 1972, đại sứ Trung Quốc Hoàng Chấn chuyển tới phía Việt Nam lời đe doạ của Kitxinhgiơ:
“Đàm phán đã đến lúc có hậu quả nghiêm trọng: Bắc Việt Nam đòi Mỹ hoặc trở lại hiệp định cũ, hoặc nhận một hiệp định xấu hơn: Mỹ không thể chấp nhận cả hai điều kiện đó. Nếu Việt Nam cứ giữ lập trường đó thì đàm phán đứt quãng và Mỹ sẽ có mọi hành động bảo vệ nguyên tắc của mình”
Đó chính là giọng lưỡi chuẩn bị cho cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 những ngày cuối năm 1972 nhằm huỷ diệt Hà Nội và Hải Phòng, hòng khuất phục nhân dân Việt Nam, buộc nhân dân Việt Nam chấp nhận giải pháp do đế quốc Mỹ áp đặt.
Trước sự câu kết của Bắc Kinh với Oasinhtơn phản bội nhân dân Việt Nam , nhân dân Việt Nam vẫn kiên cường đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ và tin tưởng vào thắng lợi của mình.
Khi phía Trung Quốc thông báo với phía Việt Nam rằng trong chuyến thăm Trung Quốc, Níchxơn cũng sẽ cùng những người lãnh đạo Trung Quốc bàn về vấn đề Việt Nam, những người lãnh đạo Việt Nam đã thẳng thắn nói:
“Việt Nam là của chúng tôi; các đồng chí không được bàn với Mỹ về vấn đề Việt Nam . Các đồng chí đã nhận sai lầm năm 1954 rồi, bây giờ không nên sai lầm một lần nữa”
Khi phía Trung Quốc thông báo chuyến đi thăm Trung Quốc của Níchxơn, những người lãnh đạo Việt Nam nói:
“Trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, nhân dân Việt Nam phải thắng. Tới đây, đế quốc Mỹ có thể đánh phá trở lại miền bắc ác liệt hơn nữa, nhưng nhân dân Việt Nam không sợ, nhân dân Việt Nam nhất định thắng”
Bất chấp mọi sức ép của Bắc Kinh và Oasinhtơn, nhân dân Việt Nam không những không nhân nhượng về những vấn đề có tính nguyên tắc, mà còn trừng trị đích đáng đế quốc Mỹ về những tội ác của chúng và cuối cùng buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari về Việt Nam ngày 27 tháng 1 năm 1973.
2 -Nắm trọn vấn đề Campuchia
Trong khuôn khổ đường lối hoà hoãn và câu kết với đế quốc Mỹ , dọn con đường bành trướng xuống Đông Nam châu Á sau này, đồng thời phá hoại Mặt trận đoàn kết nhân dân các nước ở Đông Dương, gây thêm sức ép đối với Việt Nam, từ năm 1970 Bắc Kinh tìm cách nắm các lực lượng Campuchia, thi hành một chính sách rất phức tạp đối với Campuchia, nhưng trước sau chỉ nhằm một mục tiêu: lợi ích ích kỷ của họ.
Dư luận còn nhớ bọn đế quốc và phản động đã gây ra cuộc đảo chính ngày 18 tháng 3 năm 1970, lật đổ chính phủ của ông hoàng Nôrôđôm Xihanúc, đưa lon Non lên cầm quyền. Lon Non vốn là người Campuchia gốc Hoa, lại là người của Mỹ, cho nên những người lãnh đạo Trung Quốc muốn dùng y và bỏ rơi ông Xihanúc. Tại Bắc Kinh, Bộ Ngoại giao Trung quốc nói với đại sứ Việt Nam:
“Xihanúc không có lực lượng. Việt Nam cần ủng hộ Lon Non; Trung Quốc đón Xihanúc (1) nhưng vẫn quan hệ tốt với đại sứ quán của PhnômPênh “
(1) Khi đó ông Xi-ha-núc vừa kết thúc chuyến đi thăm Liên-Xô và đang trên đường đi Bắc kinh.
Tại PhnômPênh, đại sứ Trung Quốc cũng nói những điều tương tự với đại sứ Việt Nam. Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn nói với đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh là Trung Quốc không đồng ý để sinh viên Việt Nam ở Trung Quốc biểu tình chống Lon Non.
Ngay sau khi nổ ra cuộc đảo chính ở PhnômPênh và ông Xihanúc tới Bắc Kinh, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã sang Trung Quốc thuyết phục những người lãnh đạo Trung Quốc nên ủng hộ ông Xihanúc, đồng thời trực tiếp biểu thị với ông Xihanúc sự ủng hộ mạnh mẽ của Việt Nam đối với ông ta và lực lượng kháng chiến Khơme.
Ngày 23 tháng 3 năm 1970, ông Xihanúc công bố bản tuyên cáo 5 điểm lên án cuộc đảo chính của Lon Non và kêu gọi nhân dân Campuchia đoàn kết chống đế quốc Mỹ và bè lũ Lon Non.
Ngày 25 tháng 3 năm 1970, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố hoàn toàn ủng hộ bản Tuyên cáo đó.
Ngày 7 tháng 4 năm 1970, Chính phủ Trung Quốc mới ra tuyên bố ủng hộ Tuyên cáo của ông Xihanúc. Tuy vậy, họ tiếp tục có những cuộc tiếp xúc bí mật với chính quyền Lon Non. Trong khi đó, với sự giúp đỡ của các lực lượng vũ trang Việt Nam, lực lượng kháng chiến Khơme giành thêm nhiều chiến thắng mới, giải phóng một phần tư đất nước. Chỉ sau khi Níchxơn đưa quân Mỹ xâm lược Campuchia, gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ trên thế giới và ngay cả ở Mỹ, Chính phủ Trung Quốc mới cắt đứt quan hệ với chính quyền Lon Non ngày 5 tháng 5 năm 1970.
Rõ ràng là do Việt Nam kiên quyết ủng hộ Chính phủ kháng chiến Campuchia và do tình hình thực tế trên chiến trường phát triển có lợi cho các lực lượng kháng chiến, những người cầm quyền Bắc Kinh mới chuyển sang ủng hộ ông Xihanúc, Chủ tịch Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia chống Mỹ xâm lược. Từ đó họ tìm cách nắm chặt ông Xihanúc làm con bài độc quyền của họ để chuẩn bị cho những cuộc mặc cả với Mỹ. Tuy ủng hộ ông Xihanúc và Chính phủ kháng chiến Campuchia, họ vẫn ngấm ngầm duy trì những quan hệ bí mật với bè lũ Lon Non-Xirích Matắc, mặt khác tích cực dùng bọn Pôn Pốt-IêngXary, dần dần biến Đảng Khơme thành một đảng phụ thuộc vào Đảng cộng sản Trung Quốc như kiểu các đảng, các nhóm theo Mao ở Đông Nam châu Á và ở một số nước khác trên thế giới.
Những người lãnh đạo Trung Quốc đã lợi dụng Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương lần thứ nhất tháng 4 năm 1970 và cố tình làm cho dư luận thấy rằng họ đã “đóng góp” nhiều vào hội nghị đó. Họ muốn chứng tỏ cho Mỹ hiểu rằng họ có thể giúp Mỹ tìm một giải pháp cho cả vấn đề Đông Dương và chính họ là người “thay mặt” cho Việt Nam và các nước khác ở Đông Dương để đàm phán với Mỹ.
Trong bối cảnh nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia liên tiếp giáng những đòn mạnh mẽ vào các kế hoạch phiêu lưu quân sự của Níchxơn, ông Xihanúc đề nghị triệu tập Hội nghị cấp cao lần thứ hai của nhân dân các nước Đông Dương vào cuối năm 1971, nhằm phát huy thắng lợi, đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân các nước ở Đông Dương. Bề ngoài những người lãnh đạo Trung Quốc tán thành đề nghị đó, nhưng bên trong họ giật dây bọn Pôn Pốt-Iêng Xary phản đối. Mặt khác, nhân chuyến đi thăm Việt Nam tháng 3 năm 1971, họ gợi ý triệu tập hội nghị 5 nước 6 bên (hai miền Nam, Bắc Việt Nam, Lào, Campuchia, Trung Quốc và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên) trên đất Trung Quốc nhằm mục tiêu chống Nhật. Ý đồ của họ là phá hoại khối đoàn kết, lái chệch mục tiêu đấu tranh của nhân dân các nước ở Đông Dương, đồng thời tập hợp lực lượng dưới sự chỉ đạo của Bắc Kinh để họ có thêm thế đi vào đàm phán với Mỹ. Phía Việt Nam ủng hộ đề nghị của ông Xihanúc, không tán thành họp hội nghị 5 nước 6 bên như Trung Quốc gợi ý, cũng không tán thành quan điểm cho rằng nguy cơ bấy giờ là Nhật vì kẻ thù chính của nhân dân ba nước Đông Dương vẫn là đế quốc Mỹ xâm lược. Do đó, kế hoạch hội nghị 5 nước 6 bên của Bắc Kinh đã hoàn toàn thất bại.
Trong lúc tìm cách nắm trọn vấn đề Campuchia, những người lãnh đạo Trung Quốc còn mưu toan nắm con đường vận chuyển quân sự qua ba nước Đông Dương. Trong mấy năm liền cho đến năm 1972, họ đề nghị giúp làm đường và vận chuyển hàng phục vụ chiến trường từ miền bắc đến miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia trên con đường mòn Hồ Chí Minh và hứa cung cấp cho Việt Nam đủ xe, người lái và khoảng 20 vạn quân nhân Trung Quốc để bảo đảm công việc này. Ý đồ của họ là qua đó nắm toàn bộ vấn đề Đông Dương để buôn bán với Mỹ và chuẩn bị bàn đạp đi xuống Đông Nam châu Á. Tất nhiên phía Việt Nam không chấp nhận đề nghị đó.
◎◎◎
Nếu trước đây những người lãnh đạo Trung Quốc ngấm ngầm làm yếu cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thì trong thời kỳ 1969-1973, nhất là từ năm 1971, họ công khai câu kết với đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nguy cho chúng trước cuộc tiến công chiến lược mới của nhân dân Việt Nam, lấy con bài Việt Nam để buôn bán với Mỹ. Nếu trước đây họ ngấm ngầm chia rẽ nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia nhằm cô lập Việt Nam thì trong thời kỳ này họ bắt đầu dùng bè lũ Pôn Pốt-Iêng Xary để phá hoại cách mạng ba nước Đông Dương, tích cực chuẩn bị biến Campuchia thành bàn đạp để tiến công Việt Nam, khống chế bán đảo Đông Dương, từ đó bành trướng xuống Đông Nam châu Á sau này.
Họ đã phơi trần bộ mặt ghê tởm của kẻ phản bội: phản bội nhân dân Việt Nam cũng như phản bội nhân dân Lào và nhân dân Campuchia.
IV- THỜI KỲ 1973-1975: CẢN TRỞ NHÂN DÂN VIỆT NAM GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM
Theo hiệp định Pari về Việt Nam, Mỹ phải rút hết đội quân viễn chinh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, thừa nhận ở miền Nam Việt Nam có hai vùng, hai chính quyền, hai quân đội và ba lực lượng chính trị, và các bên Việt Nam cùng thành lập một Chính phủ liên hiệp ba thành phần ở miền Nam Việt Nam. Đó là thắng lợi của đường lối độc lập, tự chủ và cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân Việt Nam, là thắng lợi của phong trào nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam. Đó là thất bại của sự mua bán bẩn thỉu trên lưng nhân dân Việt Nam giữa chính quyền Níchxơn và những người lãnh đạo Trung Quốc thể hiện trong Thông cáo Thượng Hải.
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam luôn luôn chủ trương thi hành nghiêmm chỉnh Hiệp định Pari và đòi Mỹ Thiệu cũng phải có thái độ như vậy.
Nhưng Mỹ Thiệu mưu toan phá hoại việc thi hành Hiệp định đó, chỉ muốn thi hành những điều khoản có lợi cho Mỹ. Đối với các điều khoản khác họ vi phạm ngay từ phút đầu. Lúc Hiệp định Pari bắt đầu có hiệu lực cũng là lúc Mỹ Thiệu đưa hàng vạn quân có máy bay, trọng pháo và xe tăng yểm trợ đổ bộ lên Cửa Việt hòng chiếm lấy vùng giải phóng phía bắc tỉnh Quảng Trị. Sau đó quân nguỵ liên tiếp tấn công trên khắp miền Nam Việt Nam, lấn chiếm nhiều vùng giải phóng do Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam quản lý. Âm mưu của Mỹ nguỵ là xoá bỏ tình hình thực tế có hai vùng, hai chính quyền, đặt lại toàn bộ miền Nam Việt Nam dưới ách thống trị thực dân kiểu mới, kéo dài chia cắt nước Việt Nam.
Những người lãnh đạo Trung Quốc tỏ vẻ hoan nghênh Hiệp định Pari về Việt Nam. Trên thực tế để thực hiện sự thoả thuận với Mỹ và tăng cường câu kết với Mỹ, đồng thời tiếp tục làm suy yếu hòng khuất phục Việt Nam, họ tìm mọi cách cản trở cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm đánh bại âm mưu của Mỹ Thiệu phá hoại Hiệp định Pari, giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất nước nhà.
1- Kiềm chế cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống Mỹ Thiệu phá hoại Hiệp định Paris.
Trong cuộc hội đàm ở Bắc Kinh tháng 6 năm 1973, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với Tổng bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng:
“Ở miền Nam Việt Nam cần ngừng (chiến đấu) nửa năm, một năm, một năm rưỡi, hai năm càng tốt”. Cách mạng miền Nam nên “chia làm hai bước . Gộp lại làm một, người Mỹ không chịu đâu. Vấn đề là trong tay chính quyền Nguyễn Văn Thiệu còn có mấy chục vạn quân”.
Và ông ta nhắc lại đến luận điểm “cái chổi” đã nói với phía Việt Nam trước đây.
Thủ tướng Chu Ân Lai thì nói:
“Trong một thời gian chưa có thể nói dứt khoát là 5 năm hay 10 năm, Việt Nam và Đông Dương nghỉ ngơi được thì càng tốt; tranh thủ thời gian đó mà nhân dân miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia thực hiện hoà bình, trung lập một thời gian”.
Để tỏ thiện chí với nhân dân Việt Nam, những người lãnh đạo Trung Quốc hứa hẹn sẽ tiếp tục viện trợ trong 5 năm với mức kim ngạch như năm 1973. Sự thật là khi đó họ đã ngừng hoàn toàn viện trợ về quân sự, còn về viện trợ kinh tế họ nhận chủ yếu phục hồi các cơ sở do Trung Quốc giúp trước đây và đã bị Mỹ đánh phá nhưng họ kéo dài việc thực hiện, có nơi không thực hiện.
Những người cầm quyền Trung Quốc thực chất muốn Việt Nam không làm gì cả, kể cả khi chính quyền Sài Gòn đưa quân lấn chiếm vùng giải phóng.
Đứng trước những hành động của quân nguỵ Sài Gòn lấn chiếm vùng giải phóng ngày càng tăng cường, tháng 10 năm 1973, Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam buộc phải ra lệnh kiên quyết đánh trả. Gần một tháng sau đó, trong chuyến Kítxinhgiơ đi thăm Bắc Kinh, hai bên ra thông cáo thoả thuận là trong tình hình “đặc biệt nghiêm trọng hiện nay”, hai bên cần tiến hành liên hệ thường xuyên ở các cấp có thẩm quyền để trao đổi ý kiến về những vấn đề cùng quan tâm. Thực tế đó là sự phối hợp giữa những người cầm quyền Trung Quốc và Mỹ nhằm ngăn cản cuộc đấu tranh của các lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam.
Những người cầm quyền Bắc Kinh còn khuyên Mỹ “đừng thua ở Việt Nam, đừng rút lui khỏi Đông Nam châu Á”. (Theo tướng A. Hai-gơ, báo Mỹ Người hướng dẫn khoa học cơ đốc, ngày 20 tháng 6 năm 1979.)
Thâm độc hơn nữa, họ tìm cách lôi kéo nhiều tướng tá và quan chức nguỵ quyền Sài Gòn hợp tác với họ, thậm chí cho người thuyết phục tướng Dương Văn Minh, “tổng thống” vào những ngày cuối của chế độ Sài Gòn để tiếp tục chống lại cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và đan miền Nam Việt Nam.
2 -Xâm chiếm lãnh thổ của Việt Nam, gây căng thẳng ở biên giới
Từ năm 1973, những người cầm quyền Trung Quốc tăng cường những hành động khiêu khích và lấn chiếm đất đai ở những tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam, nhằm làm yếu những cố gắng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu trang giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Đồng thời họ ngăn cản Việt Nam thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình để nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế. Ngày 26 tháng 12 năm 1973, phía Việt Nam đề nghị mở cuộc đàm phán để xác định chính thức đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ, nhằm sử dụng phần biển thuộc Việt Nam phục vụ công cuộc xây dựng đất nước. Ngày 18 tháng 1 năm 1974 phía Trung Quốc trả lời chấp thuận đề nghị trên, nhưng họ đòi không được tiến hành việc thăm dò trong một khu vực rộng 20.000 km2 trong vịnh Bắc Bộ do họ tự ý định ra. Họ còn đòi “không để một nước thứ ba vào thăm dò vịnh Bắc Bộ”, vì việc đưa nước thứ ba vào thăm dò “không có lợi cho sự phát triển kinh tế chung của hai nước và an ninh quân sự của hai nước”. Đó chỉ là một lý do để che đậy ý đồ đen tối của họ. Cũng vì vậy cuộc đàm phán về đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1974 đã không đi đến kết quả tích cực nào. Cũng với thái độ trịch thượng nước lớn như vậy, họ làm bế tắc cuộc đàm phán về vấn đề biên giới trên bộ và trong vịnh Bắc Bộ bắt đầu từ tháng 10 năm 1977 nhằm mục đích tiếp tục xâm phạm biên giới, lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam để duy trì tình hình căng thẳng ở biên giới Việt Trung.
Hơn nữa, ngày 19 tháng 1 năm 1974, tức là một ngày sau khi phía Trung Quốc nhận đàm phán với phía Việt Nam về vấn đề vịnh Bắc Bộ, họ sử dụng lực lượng hải quân và không quân tiến đánh quân nguỵ Sài Gòn và chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ lâu vốn là bộ phận lãnh thổ Việt Nam. Họ nói là để tự vệ, nhưng thực chất đó là một hành động xâm lược, một sự xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam để khống chế Việt Nam từ mặt biển và từng bước thực hiện mưu đồ độc chiếm biển Đông. Hành động xâm lược của họ có tính toán từ trước và được sự đồng tình của Mỹ. Vì vậy, khi đó đại sứ Mỹ G. Matin ở Sài Gòn đã bác bỏ yêu cầu cứu viện của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương đã được lệnh tránh xa quần đảo Hoàng Sa.
Trong cuộc hội đàm với những người lãnh đạo Việt Nam năm 1975, phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đã thừa nhận rằng hai bên đều nói các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của mình, cho nên cần gặp gỡ để bàn bạc giải quyết. Điều đó càng chứng tỏ hành động của phía Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa là ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế, gây ra một tình trạng việc đã rồi. (Về vấn đề biên giới, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các cộc đàm phán về vịnh Bắc Bộ và biên giới, xin tham khảo bị vong lục của Bộ Ngoại Giao nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày 7 tháng 8 năm 1979 và ngày 27 tháng 9 năm 1979, và Sách trắng của Bộ Ngoại Giao nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố ngày 28 tháng 9 năm 1979)
3- Biến Campuchia thành bàn đạp chuẩn bị tiến công Việt Nam
Sau Hiệp định Pari về Việt Nam, theo lệnh của Bắc Kinh, bè lũ Pôn Pốt-Iêng Xary thi hành một chính sách hai mặt đối với Việt Nam: vừa dựa vào Việt Nam vừa chống Việt Nam.
Chúng tỏ ra “hữu nghị” và “đoàn kết” với Việt Nam để tranh thủ sự giúp đỡ của Việt Nam, đặc biệt là khi chuẩn bị tấn công vào thủ đô Phnôm Pênh. Trong khuôn khổ sự thoả hiệp Trung Mỹ, những người cầm quyền Trung Quốc thực hiện sự thoả thuận không viện trợ quân sự cho cách mạng ba nước Đông Dương. Họ đã từ chối đề nghị của bè lũ Pôn Pốt Iêng Xary về tăng viện vũ khí tiến công bằng cách nhờ Việt Nam cho Pôn Pốt Iêng Xary vay rồi Trung Quốc sẽ thanh toán sau. Đây là một thủ đoạn của Bắc Kinh vừa lấy lòng bọn tay sai ở Campuchia, tránh va chạm với Mỹ, vừa gây thêm khó khăn cho Việt Nam trong lúc Việt Nam đang tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.
Mặt khác, bè lũ Pôn Pốt Iêng Xary tìm mọi cách chống Việt Nam. Chúng vu cáo Việt Nam ký kết Hiệp định Pari là “phản bội Campuchia một lần nữa” để kích động hận thù dân tộc, gây tâm lý chống Việt Nam và kiếm cớ thanh trừng những người Campuchia không tán thành đường lối của chúng. Nhiều lần chúng tổ chức những vụ đánh phá, cướp bóc kho tàng, vũ khí, tiến công bệnh viện và nơi trú quân của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đặt trên đất Campuchia.
Bè lũ Pôn Pốt Iêng Xary, bằng những thủ đoạn rất thâm độc, kể cả việc thủ tiêu bí mật những cán bộ cách mạng chân chính, ra sức củng cố vị trí trong Đảng, nắm toàn bộ quyền lực để biến Đảng cộng sản Campuchia thành một đảng phụ thuộc Bắc Kinh.
Rõ ràng những người lãnh đạo Trung Quốc đã tiến thêm một bước trong âm mưu nắm trọn Campuchia dưới chế độ của bọn Pôn Pốt Iêng Xary, chuẩn bị bàn đạp tiến công Việt Nam từ phía tây nam sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng.
Mặc dù những người lãnh đạo Trung Quốc ra sức cản trở nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, nhân dân Việt Nam vẫn kiên quyết đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao chống Mỹ Thiệu phá hoại Hiệp định Pari, tiến lên giành toàn thắng. Với cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, nhân dân Việt Nam đã đánh sụp hoàn toàn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, thống nhất nước nhà.
◎◎◎
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trước đây, những người cầm quyền Bắc Kinh chỉ can thiệp vào giai đoạn chót nhằm áp đặt giải pháp của họ đối với nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Lào và nhân dân Campuchia.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lần này của nhân dân Việt Nam, họ can thiệp ngay từ đầu, tạo điều kiện cho đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh trên cả nước Việt Nam, ném bom cực kỳ man rợ miền bắc, lấy vấn đề Việt Nam để buôn bán với Mỹ, nhưng luôn luôn làm ra vẻ “triệt để cách mạng”, “tích cực” ủng hộ Việt Nam.
Đây là sự phản bội thứ hai của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam.[/QUOTE]
Một hiệp định về ngân hàng giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ gia tăng công cuộc mậu dịch và số lượng gạo thơm xuất khẩu [VOA]
[I]2003-10-20[/I]
[QUOTE]Một hiệp định về ngân hàng giữa Việt Nam và Trung Quốc đạt được tuần trước sẽ gia tăng công cuộc mậu dịch nói chung và gia tăng số lượng gạo thơm của Việt Nam xuất khẩu sang nước láng giềng ở phương Bắc.
Thông Tấn Xã Reuters trích tin của Tờ Kinh Tế Thời Báo hôm thứ Hai cho hay thỏa hiệp về hợp tác và cách thanh toán tiền bạc giữa Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam và Ngân Hàng Nhân Dân Trung Quốc đã đạt được trong chuyến viếng thăm Bắc Kinh của Phó Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. Bản tin không cho biết rõ chi tiết về thỏa hiệp này.
Việt Nam và Trung Quốc nhằm gia tăng công cuộc mậu dịch giữa hai nước từ 3 tỷ 660 triệu đôla hồi năm ngoái lên 5 tỷ đôla vào năm 2005. Thứ Sáu vừa rồi, ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch Hiệp Hội Thực Phẩm Việt Nam, nói với Thông Tấn Xã Reuters rằng một thỏa hiệp về ngân hàng như vậy sẽ giúp gia tăng công cuộc xuất khẩu gạo thơm của Việt Nam sang Trung Quốc . Bên lề hội nghị quốc tế về gạo tại Hà Nội, ông Phong nói rằng cho tới nay Việt Nam và Trung Quốc vẫn chưa đạt được cách thức thỏa đáng về chuyện thanh toán tiền bạc.
Theo ông Phong, gạo thơm của Việt Nam với giá 300 đôla một tấn có thể cạnh tranh với gạo thơm của Thái Lan được bán ra với giá 500 đôla một tấn. Hiệp Hội Thực Phẩm Việt Nam tiên đoán rằng Việt Nam, nước xuất khẩu gạo nhiều thứ 3 trên thế giới, chỉ sau có Thái Lan và Ấn Độ, có thể xuất khẩu 3 triệu 750 ngàn tấn gạo đủ mọi loại trong năm nay, tức là tăng, so với 3 triệu 200 ngàn tấn của năm ngoái. Không rõ trong số lượng vừa kể có bao nhiêu là loại gạo thơm.
Theo Tờ Thời Báo Kinh Tế, trong chuyến viếng thăm Trung Quốc kết thúc hôm thứ Sáu vừa rồi, Phó Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng còn chứng kiến việc ký kết 3 hiệp định khác, gồm một văn bản ghi nhớ về chuyện Trung Quốc xóa bỏ một phần trong số tiền Việt Nam nợ Trung Quốc, một thỏa hiệp về việc mở cửa lãnh sự quán Việt Nam tại hai thành phố Côn Minh và Nam Ninh và một thỏa hiệp hợp tác kinh tế và kỹ thuật giữa hai chính phủ.[/QUOTE]
Mao-hồ chí minh vận dụng “thi pháp“-tam quyền phân lập, thành tựu của thế chế cộng hòa để duy trì quyền lực như thế nào? []
[B]Phần 2[/B]
[I]Thứ Ba, ngày 07 tháng 5 năm 2013[/I]
[QUOTE][IMG]http://4.bp.blogspot.com/-WH8F0fSVLpE/UYSEHPyB80I/AAAAAAAAAiE/emC2uZ1ZHKE/s1600/MAO_Ho.jpg[/IMG]
Phần 2: CHUYỆN ÔNG HỒ CHÍ MINH VÀ CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG HỐI LỘ 20 KG VÀNG CHO LƯ HÁN BỊ ÔNG TRƯỜNG CHINH CỰ LẠI...
Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ là một sự xác nhận, tôn vinh đường lối “Trường kỳ kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi…” do ông Trường Chinh là tác giả được thể hiện trong loạt bài "KHÁNG CHIẾN NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI". “Loạt bài viết này tập hợp những bài viết của Trường Chinh đăng trên báo "Sự thật" từ số 70 (4.3.1947) đến số 81 (1.8.1947), do Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu tiên nhân dịp kỉ niệm lần thứ hai ngày Nam Bộ kháng chiến (23.9.1947). "KCNĐTL" vạch rõ: mục đích của cuộc kháng chiến là hoàn thành giải phóng dân tộc và phát triển dân chủ mới, vì tự do dân chủ, vì hoà bình thế giới; kháng chiến là một cuộc chiến tranh cách mạng có tính chất dân tộc độc lập và dân chủ tự do; nhiệm vụ của cuộc kháng chiến là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược để giành độc lập và thống nhất thật sự, từng bước thực hiện chính sách cải cách dân chủ, đem lại ruộng đất cho nông dân; tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện (quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá); thực hiện phương châm kháng chiến lâu dài trải qua ba giai đoạn và dựa vào sức mình là chính; phương châm tác chiến là tích cực tiến công, giải quyết mau từng trận; sử dụng du kích chiến và vận động chiến; kết hợp tác chiến và địch vận; phát động phong trào dân quân, động viên toàn dân đánh giặc. Tác phẩm đã giải thích và phát triển đường lối kháng chiến của Đảng góp phần chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân Việt Nam kiên quyết kháng chiến theo một đường lối thống nhất nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn…( 1 )
Khi viết loạt bài này Trường Chinh với danh nghĩa Hội trưởng Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, Đảng Cộng sản Việt Nam lúc này đã rút vào hoạt động bí mật…Đến năm 1953, khi cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển qua giai đoạn tổng phản công, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức hoạt động công khai và lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam, ông Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch, ông Trường Chinh được bầu là Tổng Bí thư...Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, vai trò và ảnh hưởng của ông Trường Chinh rất lớn bởi ngoài việc ông đã đề xuất ra một đường lối đúng và điều quan trọng hơn: những đảng viên trung kiên đã tổ chức nên cuộc khởi nghĩa dành chính quyền năm 1945, giữ các cương vị quan trọng lãnh đạo cuộc khánh chiến toàn dân, toàn diện đều là những đảng viên trong tổ chức Đảng do Trường Chinh đứng đầu; nói theo ngôn ngữ bình dân đều là quân và lính, chịu ảnh hưởng và uy tín của ông Trường Chinh…
Phần 1: MAO-HỒ CHÍ MINH VẬN DỤNG “ THI PHÁP “-TAM QUYỀN PHÂN LẬP...
Trên danh nghĩa ông Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước nhưng những vị trí then chốt trong bộ máy đều là người của ông Trường Chinh; Do vậy, trên danh nghĩa ông Hồ Chí Minh là lãnh tụ tối cao nhưng thực chất quyền bính, quyền lực theo nguyên tắc đảng thì ông Trường Chinh mới là ngươi nắm quyền chi phối tổ chức Đảng…Không phải ngẫu nhiên mà năm 1946, khi lên máy bay bay sang Pháp để thương lượng, ký hiệp định sơ bộ để tìm cách đuổi quân Tưởng Giới Thạch ra khỏi miền bắc, ông Hồ Chí Minh bước lên cầu thang và gạt nước mắt tuyên bố: Đồng bào hãy tin tưởng, Hồ Chí Minh không phải là kẻ bán nước…Sở dĩ Hồ Chí Minh phải tuyên bố công khai trước báo giới là do Trường Chinh đã viết một bài trên báo Sự thật ám chỉ Hồ Chí Minh có những hành động mờ ám trong quan hệ với Pháp…
Khi tham gia đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa do Phạm Văn Đồng dẫn đầu để thương lượng với Chính phủ Pháp; ông Hồ Chí Minh tham gia với tư cách là khách mời đặc biệt của Tổng thống Pháp; Cuộc hòa đàm giữa Chính phủ Pháp và Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã bất thành, không đạt được những thỏa thuận như ý và 2 bên chỉ thống nhất ký với nhau được Tạm ước 14/9/1946…Với tạm ước này, phía Chính phủ Hồ Chí Minh đồng ý để quân Pháp ra miền bắc thay quân đội Tưởng Giới Thạch giải giáp quân Nhật…
Nhiều ý kiến cho rằng đây là công và tài mưu lược của Hồ Chí Minh vạch ra sách lược hòa để tiến; Thực ra đây là một hiệp ước có một phần sức ép, móc ngoặc của phía đồng minh với Pháp và Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch…Để đổi cái việc nhường cho quân Pháp ra miền bắc, phía Pháp đã nhường cho Tưởng Giới Thạch quyền khai thác tuyến đường sắt Hà Nội-Côn Minh do Chính phủ Pháp ký với triều Mãn Thanh được đầu tư tuyến đường sắt tốn kém này theo dạng BOT ngày nay…Đây là tuyến đường sắt Pháp bỏ tiền ra xây dựng để chuyên chợ khoáng sản từ vùng Vân Nam ra cảng Hải Phòng và theo thỏa thuận nước Pháp sẽ sử dụng, khai thác tuyến đường sắt trong vòng 100 năm..Tới năm 1946, Pháp khai thác chưa được một nửa thời gian nhưng để đổi cái việc quân Tưởng nhường cho quân Pháp vào miến bắc để đổi lại Pháp bàn giao tuyến đường sắt này trước thời hạn hơn 50 năm cho Trung Hoa dân quốc của Tưởng khai thác…Sau này Tưởng bị đánh đuổi ra khỏi Hoa lục và quyền lợi này đã rơi vào Trung Quốc của ông Mao…Hiện nay nhiều người cho rằng Việt Nam nợ Trung Quốc nhưng thực ra nếu tính đủ khoản lợi tức khai thác tuyến đường sắt này từ 1946 tới năm 2010 thì chưa chắc khoản Trung Quốc giúp Việt Nam đã hơn khoản lợi do tuyến đường này mang lại.
Theo WikiPedia thì:”Tuyến đường sắt Hải Phòng - Vân Nam là tuyến đường sắt kết nối giữa Hải Phòng và thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Là tuyến đường sắt khổ hẹp (1,1 m) được xây dựng trong thời kì Pháp thuộc, hoàn thành năm 1910. Tuyến đường sắt dài 855 km, gồm 390 km trên lãnh thổ Việt Nam nối Hải Phòng với Lào Cai, và 465 km trên lãnh thổ Trung Quốc, nối Côn Minh với Hà Khẩu. Thời gian xây dựng tuyến đường sắt này được xây dựng trong vòng 10 năm, từ 1901 đến 1910, qua những vùng núi cao vực sâu hết sức hiểm trở…”
Sau này rất tiếc trong các cuộc mặc cả ngoại giao về nợ nần giữa Việt Nam và Trung Quốc sau này, ít ai nhớ tới xương máu của người Việt Nam đã giúp cho Trung Quốc của ông Mao lấy lại tuyến đường sắt này sớm hơn 60 năm để mà tính sổ với Trung Quốc…
Để đuổi được quân Tưởng ra khỏi Việt Nam, ngoài việc Pháp nhường cho Tưởng tuyến đường sắt Côn Minh-Hà Khẩu; đích thân ông Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng còn phải mang 20 kg vàng đi hối lộ cho Lư Hán…Một nhân chứng kể rằng: người đứng ra cân số vàng này là ông Phạm Văn Đồng, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Tài chính; Khi ông Phạm Văn Đồng mang vàng đến, đích thân ông Hồ và Cụ Huỳnh phải kiểm đếm…Số vàng này là số quyên góp được trong tuần lễ vàng…Khi ông Hồ và Cụ Huỳnh mang vàng đến, Lư Hán lấy lý do bận không tiếp và để cho 2 vị đứng đầu nhà nước Việt Nam phải ngồi đợi tại dịnh thự của Lư Hán ở Cửa Nam gần 2 tiếng đồng hồ…
Cụ Huỳnh ức lắm, dậm chân đến vỡ cả gạch lát nền nói với ông Hồ: Tôi thấy nhục lắm Cụ ạ; Ông Hồ đã phải vỗ về Cụ Huỳnh: Xin cụ hãy thương dân…
Khi mang vàng vào cho Lư Hán, Cụ Hồ quắc mắt với y: Các ngài yêu cầu gạo nhưng gạo chúng tôi không có, dân chúng tôi đang chết đói, bản thân tôi là Chủ tịch mà mỗi tuần còn phải nhịn ăn một bữa…Nghe thấy vậy, Lư Hán tối sầm mặt vì không ngờ 2 ông giá đợi y tới 2 giờ chỉ để nói ra câu đó…Đợi cho thái độ của Lư Hán thay đổi, ông Hồ mới dịu dọng: Gạo chúng tôi không có nhưng chúng tôi có cái này dành cho các ngài: Vàng!
Nghe thấy vàng, Lư Hán sáng mắt ra và sau đó y hảo hảo nhận số vàng 20 kg do ông Hồ Chí Minh và Cụ Huỳnh Thúc Kháng đích thân mang tới hối lộ cho y…Sở dĩ ông Hồ hối lộ cho y vang mà không cấp gạo là để quân Tưởng rút về nước cho nhanh, nếu cấp gạo chúng nó lại chây ra…
Sau vụ hối lộ vàng cho Lư Hán, ông Hồ đã bị ông Trường Chinh cự nự: Tại sao Chủ tịch và Phó Chủ tịch mang vàng của nhân dân đi hối lộ quân Tàu ô mà không cho Đảng biết ? Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã quát lại: Các nah chỉ biết một mà không biết hai; Nếu để cho Đảng các anh biết thì thằng chó nào nó dàm nhận vàng hối lộ…Lư Hán mà còn ở lại thì không những số vàng kia không còn mà có khi cả tính mạng của tôi và anh có khi cũng mất nốt…
Sau vụ này nghe nói ông Trường Chinh ghét Cụ Huỳnh lắm và một nguồn tin cho biết Cụ Huỳnh về quê chết là do bị Việt Minh đầu độc ?
Sau vụ này, vụ hối lộ vàng cho Lư Hán năm 1946, cả ông Hồ Chí Minh cũng đã bắt đầu gờm ông Trường Chinh với cái tổ chức đảng…[/QUOTE]
(Còn nữa...)
Nguồn [COLOR="#000080"]Phạm Viết Đào Blog[/COLOR]
Những món nợ đẫm máu giữa Trung Quốc và Việt Nam [Phan Ba's Blog]
[I]Tháng Năm 19, 2014[/I]
[COLOR="#0000FF"]Berthold Seewald[/COLOR]
Phan Ba dịch từ báo [COLOR="#000080"]Thế Giới[/COLOR] [[COLOR="#000080"]Die Welt[/COLOR]]
[QUOTE][COLOR="#000080"][I]Năm 1979 Bắc Kinh đã phủ lên láng giềng phía Nam của họ một cuộc chiến dữ dội. Và ngay từ thời đó thì đã là vì biên giới rồi, những đường biên giới mà các thế lực Phương Tây đã ép buộc Trung Quốc trong các “hiệp ước bất bình đẳng”[/I][/COLOR]
[IMG]http://phanba.files.wordpress.com/2014/05/der-chinesisch-vietnamesische-krieg-1979-01.jpg?w=600[/IMG]
[COLOR="#4B0082"]Quân đội Việt Nam trước khi rút khỏi Campuchia trong tháng 12 năm 1988. Mười năm trước đó, họ đã lập đổ chế độ cộng sản Pol Pot đồng minh với Trung Quốc.[/COLOR] [COLOR="#000080"]Hình: picture-alliance / dpa[/COLOR]
Cùng hướng tới các học thuyết của Marx và Lênin không ngăn cản các quốc gia dùng bạo lực tấn công nhau, điều này đang được Trung Quốc và Việt Nam chứng minh trong những ngày này. Đã có nhiều người chết trong những cuộc bạo động chống nhà máy Trung Quốc ở Việt Nam, và tờ “Toàn Cầu Thời Báo” Trung Quốc thân với chính phủ đe dọa là nước này cũng có thể dùng tới những “biện pháp không hòa bình”, nếu như các cuộc biểu tình chống Trung Quốc khoan dầu ở Biển Đông trở thành quá khích.
Đó không phải la những lời đe dọa suông, điều này thì đã được hai nước chứng minh trước đây 35 năm. Thời đó, nhiều trăm ngàn lính Trung Quốc tấn công miền Bắc Việt Nam. Người ta cho rằng 80.000 người đã tử trận hay bị thương chỉ trong vòng vài tuần. Nguyên cớ cho cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ ba, như cuộc Chiến tranh Việt – Trung thỉnh thoảng cũng được gọi như vậy, thêm một lần nữa là những cuộc tranh cãi biên giới. Nguyên nhân của chúng lại nằm trong các “hiệp ước bất bình đẳng” mà các thế lực nước ngoài đã ép buộc đế chế Trung Quốc trong thế kỷ 19. Qua đó, tranh cãi giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể so sánh được với xung đột vì các hòn đảo không người sinh sống Senkaku hay Điếu Ngư ở biển Hoa Đông, những hòn đảo mà Nhật Bản đã giành lấy từ láng giềng to lớn sau chiến thắng năm 1895 của họ.
Cả hai trường hợp này là những ví dụ rất tốt cho việc Trung Quốc hiện đại dùng lịch sử của họ như là một sức mạnh nhận dạng như thế nào. Trong trường hợp của Việt Nam thì đó là kết quả của cuộc Chiến tranh Thuốc phiện lần thứ nhì. Năm 1856, Liên hiệp Anh lợi dụng một hành động của cảnh sát Trung Quốc chống một con tàu dưới lá cờ Anh để gởi Hải quân Hoàng gia chống lại đất nước của hoàng đế. Nước Pháp dưới Napoleon III cũng tham gia.
Năm 1858, tàu chiến Phương Tây chiếm và phá hủy nhiều pháo đài. Trong Hiệp ước Thiên Tân, Trung Quốc phải mở cửa mười cảng cho những người chiến thắng, bảo đảm tự đo đi lại cho người ngoại quốc, bồi thường và hợp thức hóa việc buôn bán thuốc phiện. Khi hoàng đế từ chối không ký tên vào hiệp ước, một đoàn quân viễn chinh của đồng minh đã phá hủy dinh mùa hè tuyệt đẹp ở đông bắc Bắc Kinh. Nhà văn Victor Hugo cay đắng ghi nhận: “Một ngày nào đó, hai tên cướp xông vào dinh thự mùa hè. Một tên cướp bóc, tên kia phóng hỏa… Chúng ta người châu Âu là văn minh, đối với chúng ta người Trung Quốc là dân man rợ: Thế đấy, nền văn minh đã làm điều đó với dân man rợ.”
[IMG]http://phanba.files.wordpress.com/2014/05/members-of-an-artillery-unit-of-the-viet.jpg?w=600[/IMG]
[COLOR="#4B0082"]Sau đó, Bắc Kinh đã dựng kịch bản đánh trả thù cho lần tấn công vào Việt Nam của họ. Tháng Hai 1979, quân đội Trung Quốc vượt qua biên giới. Hình chụp một đơn vị pháo binh của Việt Nam.[/COLOR] [COLOR="#000080"]Hình: AFP/Getty Images[/COLOR]
[B]Hiệp ước Hữu nghị với Pol Pot[/B]
Hiệp ước Thiên Tân là một dấu mốc trong sự sụp đổ hệ thống triều cống mà với nó Trung Quốc đã trói buộc các quốc gia láng giềng vào vũ trụ của nó. Qua triều cống – tượng trưng – những người đang trị vì Việt Nam công nhận quyền tối cao của hoàng đế. Bây giờ thì người Pháp bắt đầu không chỉ mang miền Nam của “Đông Dương” vào vòng kiểm soát của họ mà cũng thâm nhập ra miền Bắc, Bắc Bộ. Trong nhiều bước, Trung Quốc buộc phải chấp nhận đường biên giới mà các thế lực thuộc địa ép buộc.
Lần chia biên giới đó đã dẫn tới xung đột vũ trang năm 1979. Trong các cuộc chiến chống Pháp (cho tới 1965) và Hoa Kỳ với đồng minh của nó (cho tới 1975) nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã hỗ trợ rất nhiều cho chính quyền Bắc Việt. Điều đó đột ngột thay đổi, khi Việt Nam, dựa trên liên minh với Liên bang Xô viết, can thiệp vào Campuchia năm 1979 và lật đổ chế độ độc tài thời Đồ Đá của Khmer Đỏ.
Những người này là đồng minh của Bắc Kinh. Ở đó, người ta hiểu lần mở rộng vùng ảnh hưởng của Việt Nam này là một cố gắng bao vây của Xô viết ở phía Nam và tức giận phản ứng. Một hiệp ước hữu nghị được ký kết với chế độ Pol Pot đang chao đảo. Và Việt Nam bị tấn công vì liên tục xâm phạm biên giới. Trong khi Trung Quốc đưa ra 3535 vụ việc thì dân tộc cộng sản anh em thù địch trả đũa với 2158 “lần khiêu khích”.
Vào ngày 17 tháng Hai, quân đội Trung Quốc tấn công. Tròn 200.000 người, được yểm trợ bởi nhiều xe tăng và máy bay chiến đấu, thâm nhập vào đất Việt nam sâu có cho tới 40 kilômét. Những người chiến đấu bảo vệ đã làm việc mà họ đã từng làm trong những cuộc chiến tranh thắng lợi chống các cường quốc Phương Tây: họ lui về các hệ thống phòng thủ trong rừng rậm và kháng chiến linh hoạt.
[IMG]http://phanba.files.wordpress.com/2014/05/arrested-chinese-soldiers-are-kept-by-vi.jpg?w=600[/IMG]
Mặc dù có thế mạnh hơn, quân đội Trung Quốc phải chịu nhiều tổn thất lớn. Có cho tới 80.000 người bị cho là đã tử trận hay bị thương trong cuộc chiến kéo dài ba tuần. Hình: AFP/Getty Images
[B]Chiếm hữu vì tài nguyên[/B]
Mặc dù phần lớn lực lượng Việt Nam còn đang hoạt động ở Campuchia và miền Nam, người Trung Quốc vẫn không đạt được một chiến thắng vinh quang. Còn ngược lại. Peter Scholl-Latour trong quyển sách bán chạy của ông “Der Tod im Reisfeld” ["Cái chết trên ruộng lúa"] (1980) đã mô tả lại sức chiến đấu của người Việt Nam. Vào ngày 16 tháng Ba, “cú đánh trả thù”, như sử gia Kai Vogelsang phỏng đoán chiến dịch này, chấm dứt. Cả hai bên đều tuyên bố chiến thắng. Ước lượng của các nhà quan sát, mà theo đó các đối thủ đã mất mỗi bên tròn 40.000 người, nói về một bất phân thắng bại – không làm cho cường quốc Trung Hoa hài lòng.
Sau đó, hai chính quyền đã có thể dàn xếp được các tranh cãi biên giới của họ, ít nhất là đối với đường biên giới trong rừng rậm trên đất liền. Tuy vậy, cuộc tranh cãi vì các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước bờ biển nhiều trăm kilômét vẫn tiếp tục. Vào lúc ban đầu, nước Pháp đã trao các hòn đảo lại cho đế chế, nhưng sau đó lại thôn tính chúng.
Với những lập luận lịch sử, cả Malaysia, Đài Loan, Brunei và Philippines cũng tuyên bố chủ quyền nhóm các hòn đảo bé tí đó, trước hết như là danh hiệu sở hữu cho tài nguyên ở dưới đáy biển. Không phải bỗng dưng mà những người biểu tình ở thủ đô Manila của Philippines đã yêu cầu Trung Quốc chấm dứt các hành động “gây rối” ở biển Đông sau các cuộc bạo loạn tại Việt Nam.
Trong khi đó Trung Quốc dường như đang kiên quyết xác định vị thế quyền lực mới của họ cùng với việc xét lại các “hiệp ước bất bình đẳng” và các hậu quả rắc rối của chúng. Đã từ lâu, xã hội cộng sản phát triển không còn là mục tiêu của ĐCS nữa, mà là “xã hội hài hòa”, như nhà tư tưởng thời xưa Khổng Tử đã giảng dạy: như là “là khái niệm tư tưởng dẫn đầu của sự thống trị tuyệt đối” (Kai Vogelsang) cho đối nội và – càng nhiều càng tốt – cho đối ngoại.[/QUOTE]
[COLOR="#0000FF"]Berthold Seewald[/COLOR]
[COLOR="#4B0082"]Phan Ba dịch từ báo Thế giới [Die Weilt]:[/COLOR]
[url]http://www.welt.de/geschichte/article128107363/Blutige-Rechnungen-zwischen-China-und-Vietnam.html[/url]
TRUNG QUỐC, VIỆT NAM, AI NỢ AI? [VHNA]
[COLOR="#0000FF"]HOA BẢY[/COLOR]
[I]Thứ tư, 22 Tháng 1 2014 00:02[/I]
[QUOTE]Nhà cầm quyền Bắc kinh thường tận dụng các phương tiện tuyên truyền cố tình nhồi sọ làm cho dân TQ và nhân dân thế giới nghĩ rằng trong quá khứ họ đã đơn phương giúp Việt Nam chống xâm lược mà rồi VN “bội bạc”(!) (ngay cả một số giáo sư TQ vẫn hay nói với sinh viên VN du học bên đó rằng VN “vô ơn”).
[B]Sự thật ra sao? ơn ai? ai ơn?[/B]
Có phải “ông-anh-đồng-chí” hào phóng và vô tư ban viện trợ một cách “quân tử”, -nói kiểu phương đông truyền thống, hoặc với tinh thần “quốc tế vô sản”, -nói theo ngôn từ cách mạng? Chuyện đâu có đơn giản!
Đã có không ít bài viết đề cập đến chuyện này. Tôi xin mạn phép bổ sung một số ý nhỏ.
Năm 1949, Trung cộng giành được toàn nước Trung Hoa trên đất liền; sau đó chỉ được các nước “xã hội chủ nghĩa” công nhận. Họ rất muốn có được tiếng nói và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Dịp may lớn đầu tiên là hội nghị Genève năm 1954 về chiến tranh Đông Dương -trong đó cuộc kháng chiến của VN là chủ đạo, Bắc kinh được tham dự. (Sự nóng lòng tận dụng dịp may đó bộc lộ không mấy tế nhị và vinh dự trong phiên khai mạc: Chu Ân Lai, trưởng đoàn Trung cộng, tươi tỉnh tiến đến để bắt tay trường đoàn Mĩ -nhưng ông này quay lưng lại). Trong suốt quá trình hội nghị, họ qua mặt VN thương lượng trực tiếp với phái đoàn Pháp, áp đặt ý đồ chia cắt VN. Họ chỉ cần một vùng cách li an toàn cho đất nước họ. Nhờ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, và nhân dân Đông Dương nói chung, có cơ hội, họ cố giương ra một vai trò nào đó trên bàn cờ quốc tế và đã đạt được phần nào.
Việc ra sức hoạt động để vượt ra thế giới không từ bất cứ thủ đoạn nào, tất nhiên có việc lợi dụng VN. Chuyện nhỏ sau đây chứng tỏ họ vừa thâm hiểm và xảo trá, vừa trơ tráo. Năm 1956, trong đêm tối một tàu hàng của Pháp trên đường vào một cảng biển VN để nhận than (do VN trả, nằm trong chi phí mua lại mỏ than ở Hồng Quảng -Quảng Ninh sau này) đâm phải một tàu đánh cá của người TQ chường ra trên luồng tàu đi. Người Pháp vớt các ngư dân lên chăm sóc, đối đãi tử tế, lập biên bản trong đó ngư dân TQ thừa nhận họ đã sai, vi phạm luật đường biển. Thuyền trưởng tàu Pháp mời nhà chức trách VN đến trao trả người và đưa cả biên bản. Phía VN cảm ơn, rồi trao lại cho phía TQ. Bắc kinh nhận người, ỉm luôn biên bản, và lớn tiếng kết tội tàu Pháp đã ngang nhiên hiếp đáp ngư dân TQ(!), đòi công khai xin lỗi và bồi thường. Họ tìm cách để buộc chính phủ Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán với họ. Vì mưu đồ thâm hiểm của mình, họ đẩy VN vào thế rất khó xử. Chiếc tàu Pháp bị giữ lại mấy tháng trời. Người thuyền trưởng Pháp cay đắng nói với phía VN: Tôi biết các ông đang phải làm vừa lòng TQ, đằng sau việc này là những toan tính chính trị của họ.
Nhiều người đã nêu rõ lí do vì sao năm 1968 Bắc kinh ra sức ngăn cản VN đi hoà đàm với Mĩ ở Paris. Họ muốn VN “chống đế quốc đến người VN cuối cùng” (cách nói của báo chí phương Tây) một khi họ đang cần vậy cho những tính toán lợi ích của họ. Đến khi Mĩ thực sự sa lầy ở VN, Bắc kinh thấy đã đến lúc chẳng cần che đậy ý đồ thèm muốn bắt tay với “cọp giấy” nữa. Bắt đầu bằng “ngoại giao bóng bàn” và cuộc đi đêm của Kissinger đến Bắc kinh sau “màn kịch đau bụng” của ông ta tại Pakistan. Tiếp đó là màn tổng thống Mĩ Nixon thăm TQ năm 1971, cùng với các cuộc mật đàm, và hệ quả là kết ước Thượng Hải. Trong cuộc “mua bán chính trị” này, Mĩ chỉ được lợi là thêm “đồng minh” chống Liên xô (xưa); còn “chiến lợi phẩm” của Bắc kinh thì chẳng ít, nhưng rõ ràng nhất là việc Mĩ làm ngơ cho TQ xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của VN năm 1974, và không lâu sau để ngỏ cửa cho họ giành chiếc ghế thường trực Hội đồng bảo an LHQ của Trung hoa dân quốc (Đài Loan).
Có được vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế và được ngồi vào ghế HĐBA LHQ, chính (cố) thủ tướng TQ Chu Ân Lai từng nói với “các đồng chí VN”, không chỉ một lần, rằng nhờ có phần đóng góp quan trọng của cuộc đâu tranh của nhân VN, và họ, TQ, rất biết ơn về điều đó.
Nói về “nợ”, TQ từng “giúp” VN lương thực, trang thiết bị quân đội, vũ khí (chủ yếu là của Liên-xô hoặc do LX giúp Mao đánh Tưởng), ... ; trong khi đó, với VN chính TQ nợ xương máu, nợ “chia cắt đất nước” (chẳng phải Chu Ân Lai đã thừa nhận với Lê Duẩn “chúng tôi đã sai lầm” về vấn đề này sao!), nợ về sự trì trệ, ...
Nếu kể cho rạch ròi thì nhiều thứ TQ “giúp” đã gây hại, trước mắt và về lâu về dài. Chẳng hạn, đưa quân sang giúp làm đường (do TQ đòi đưa quân sang đánh “giúp”, VN phải lảng tránh bằng cách nhờ giúp làm đường) thì tàn phá môi trường, cảnh quan (trong đó có việc đặt mìn tiêu huỷ “hòn đá Liễu Thăng”),-[Xin dẫn thêm một vài ví dụ trong trăm ngàn ví dụ: ở Côn Sơn, nơi ẩn cư của Trần Nguyên Đán và Nguyễn Trãi, họ đã đào xuyên ngang dọc quả núi thành đường hầm, hiện cửa vào bị bít, không ai biết họ làm gì trong đó. Nhiều di tích như di tích An Sinh, nơi gần đây mới xây đền thờ các vị vua Trần, hết thảy tượng đá thời Trần đều bị phạt cụt đầu hoặc bắn vào bụng. Ở Ngọa Vân am, không những tháp Phật Hoàng đựng xá lị hoàng đế Trần Nhân Tông và tháp Đoan Nghiêm cổ kính cao lừng lững bị đào rỗng ruột, toàn bộ bài vị trong tháp bị đập cho tan nát, tấm bia Trịnh Căn cho lập để kỉ niệm một lần ông đưa con trai và con gái trèo núi lên chiêm bái vị anh hùng cũng bị đập thành ba bảy mảnh, mà 13 ngọn tháp đứng theo một hàng thẳng tắp chạy thoai thoải xuống phía Tây Nam cách nhau chừng 50 mét một đều bị phạt ngang, phía dưới có một đường hầm lộ thiên đào thông tháp nọ với tháp kia. Họ định phá long mạch của nhà Trần lừng lẫy chiến công chống giặc Bắc, cũng tức là phá long mạch của Việt Nam chăng?], khai thác trộm của cải, thăm dò ngầm tài nguyên, địa thế,... Chẳng hạn, giúp cố vấn Cải-Cách-Ruộng-Đất thì đẩy đến những vụ giết chóc man rợ. (Không kể những vụ “nổi tiếng” như vụ Nguyễn thị Năm, có nhiều vụ “âm thầm”; ví như tại một xã, trong một đêm có sáu người đột tử, cán bộ đội CCRĐ nhận định là tự tử, nhưng bị cố vấn TQ phê phán là kém cảnh giác và khẳng định là do địch bịt đầu mối; sau đó “quả nhiên” đội (phải) tìm ra “địch” đưa ra xử bắn!). Chẳng hạn, giúp “xây dựng CNXH trên miền Bắc” (chẳng phải cho không) thì như khu gang thép Thái Nguyên mà một chuyên gia Đông Âu cùng phe XHCN từng nhận xét là kĩ thuật lạc hậu chính TQ đang muốn thay thế ở nứoc họ, qui mô rềnh ràng tốn đất, năng suất thấp,... V.v... Những món nợ kiểu này, những người VN cả tin phải chịu, nhưng Bắc kinh phủi tay được sao?!
Nữa, năm 1979 Đặng Tiểu Bình xua quân xâm lăng VN, không chỉ giết hại thường dân mà còn cướp phá –đúng trọn nghĩa của từ này! Những thứ gì không mang về nước được, chúng đốt sạch, phá sạch, đập cho tan nát cả những thứ vụn vặt từ cái ghi đường sắt cho đến đồ dùng nhà bếp. Nhà cầm quyền Trung cộng còn nợ dân VN lời nhận tội và lời xin lỗi; nợ phí “bồi thường chiến tranh” theo thông lệ quốc tế [vô cớ tràn vào đất nước người ta tàn sát, cướp bóc, phá hoại rồi an nhiên rút đi lại tráo trở giọng lưỡi kẻ cường quyền (rằng thì là “phản kích tự vệ”) mà xoá nợ được sao! Còn ép nạn nhân phải “câm miệng”, một trong những điều kiện để nối lại “quan hệ đồng chí”!].
Chưa nói những thiệt hại lộ diện hoặc âm ỉ khoét mòn, trước mắt và lâu dài, mà “ông bạn 16 chữ, 4 tốt” gây ra cho đất nước ta bằng quyền lực mềm và chẳng mềm từ sau khi “bình thường quan hệ trở lại”.
Đã đến lúc, dẫu khí muộn, cần phải cho nhân dân VN, nhân dân TQ, nhân dân toàn thế giới thấy rõ sự thật trắng đen, không để cho Bắc kinh quen lối “vừa la làng, vừa ăn cướp” đầu độc dân nước họ vốn đang bị nhồi sọ chính sách ngu dân và chủ nghĩa dân tộc cực đoan đại Hán, đầu độc dư luận quốc tế. Mà làm việc này trách nhiệm chính là của các phương tiện thông tin chính qui của ta.[/QUOTE]